Nhà báo Võ Trung Dung: Nhà báo phải có tư cách nhà báo

Võ Trung Dung, nhà báo tự do sống ở Pháp được tiếp cận với kỹ năng của báo chí phương Tây. anh đã có hơn hai mươi năm đi viết bài tại nhiều quốc gia, có mặt tại các điểm nóng chiến sự, quan tâm đến các vấn đề chính trị quốc tế, làm nhiều phóng sự điều tra. Bạn đọc Việt Nam đã từng biết loạt phóng sự do anh viết về người Việt nhập cư chui lủi trong các cánh rừng xứ người. Anh cũng cộng tác với nhiều báo đài trong nước và là một trong số các nhà báo quốc tế được đánh giá là “rất ít người biết Việt Nam rõ như vậy”.

Bạn đọc rất chú ý những phóng sự điều tra đặc biệt của anh và muốn biết làm cách nào anh xâm nhập vào khu rừng Calais (Pháp) có người Việt nhập cư lậu vào năm 2009 để thu thập được nhiều thông tin như vậy?

Khu rừng lớn lắm, không biết thì không tìm được đâu. Phải hỏi thăm cảnh sát, các cha xứ, thu thập tin tức từ báo chí địa phương… Họ chỉ cho quy luật đi về của những người này, giờ nào ra ngoài mua bánh mì, giờ nào lấy nước… Lần theo đó, tôi tìm gặp những người nhập cư, tìm cách vào rừng nơi họ sinh sống.

Anh có phải giấu thân phận khi hành nghề, giấu mình là nhà báo để thâm nhập cho dễ như nhiều nhà báo Việt Nam thường làm không?

Tôi vào rừng và tự giới thiệu. Rất ít khi tôi giấu tư cách phóng viên, vì nếu làm như vậy sẽ không lấy được nhiều thông tin. Chỉ khi làm việc gì đó với mục đích có thêm không khí, mắm muối cho bài viết thì tôi mới không giới thiệu mình là nhà báo. Tôi hỏi hải quan một ngày bắt được bao nhiêu người nhập cư lậu, và được biết rằng mỗi ngày có cả mấy trăm xe cam – nhông chở người nhập cư lậu đi qua, nhưng lâu lâu họ mới chụp được một chiếc. Tôi phỏng vấn những người nhập cư lậu, những người đã thoát rồi.

Nhưng họ là dân nhập cư lậu, trốn chui nhủi, làm sao dám nói chuyện với nhà báo? Anh thuyết phục họ bằng cách nào?

Nhà báo Võ Trung Dung

Tôi đưa danh thiếp, nói rõ tôi là thế này, không ép ai cả, tôi chỉ chụp hình, quay phim họ một khi họ đồng ý. Hỏi họ có muốn nêu tên thật hay không. Và giữ lời. Tôi không hứa giúp họ điều gì. Đừng lừa dối bằng cách hứa hẹn, cốt được việc mình. Tôi chỉ muốn biết vì sao họ cố sống chết đến được đây, để phải ăn ở trong điều kiện như thế này. Người thứ nhất không nói, người thứ hai, thứ ba không nói. Rồi người tiếp theo nói cho một chút, người tiếp nữa nói được nhiều hơn… Ai kể cho nghe thì tôi cảm ơn, không kể thì thôi. Những ai không kể, có thể tôi hỏi nhiều lần. Bởi tôi biết họ khổ, họ cần được nói ra. Theo tôi, quan trọng là xử sự với nhau theo cách giữa con người với con người và họ cảm thấy mình thành thật.

Các nhà báo ở Việt Nam vẫn phải đóng giả để thâm nhập thực tế, như giả làm hộ lý bệnh viện, nhân viên ở khách sạn để điều tra đường dây mại dâm, nhất là khi điều tra chống tiêu cực, hối lộ. Anh nghĩ đó có phải là phương pháp tốt?

Quan điểm của tôi, nhà báo phải có tư cách nhà báo, chính danh. Trừ khi để viết sách, cần hiểu sâu tâm trạng, thân phận, thêm mùi vị. Báo chí không cần thiết theo cách đóng giả đó, mà phải có phương pháp khác. Muốn biết tiêu cực, thái độ phục vụ của bệnh viện đâu có khó. Đi theo người khám bệnh, phỏng vấn bệnh nhân, hộ lý.

Theo công thức xã hội học điều tra, trong mười người nói có khoảng bảy người nói đúng. Không cần đóng giả, chỉ hãn hữu trong những việc quan trọng liên quan đến lợi ích cộng đồng và không còn phương pháp nào khác. Nghĩa là tùy vào thông tin ấy có quan trọng cho cộng đồng không (luật của Liên minh châu Âu còn cho phép phạm luật nếu việc điều tra ấy có liên quan đặc biệt quan trọng đến lợi ích lớn của cộng đồng). Còn đóng vai để vào động gái nghe tâm trạng, theo tôi là không ích gì. Có thể vào để quan sát, miêu tả, nhưng thông tin từ việc đó là cực kỳ ít. Cần phải qua nhiều nhân chứng. Thực hiện phóng sự 80% là nghiên cứu, tài liệu, 20% đi lấy màu sắc thực tế.

Một nhà báo Ý đi lấy tài liệu viết sách phóng sự xã hội về giới xã hội đen (mafia), thế lực toàn cầu ghê gớm thế, mà ông không giấu mình. Ông làm trong ba năm liền. Năm đầu tiên không ai thèm nói gì cho ông. Cứ kiên nhẫn rồi sau đó cũng có người không sợ, nói ra. Sách của ông gây chấn động. Dù bị đe dọa, ông vẫn công khai mình là nhà báo.

Làm phóng sự điều tra, anh có gặp phải những rắc rối kiện tụng?

Trong phóng sự điều tra, vấn đề pháp lý rất quan trọng. Những rắc rối thường gặp là người viết bị kiện vu khống. Vậy nên thông tin phải đưa ra cho ban phụ trách luật nghiên cứu trước. Làm nhà báo viết phóng sự điều tra, điều quan trọng không phải là xâm nhập lấy thông tin, mà là tư liệu và xây dựng các mối quan hệ. Phải tốn rất nhiều thời gian.

Nhưng  phóng viên khi viết bài đã buộc phải qua bước tự phối kiểm thông tin?

Kiểm tra tin tức chỉ là lý thuyết, lỗi thường gặp chính là sự hấp tấp. Phóng sự không “ăn nóng” được, phải kiểm tra hai, ba nguồn, phỏng vấn một số người khách quan. Tuyệt đối không dùng những dữ liệu bí mật quốc gia.

Anh viết về chiến tranh, bắt cóc, thị trường thuốc Tây, cúm heo, phỏng vấn đại sứ, nhà văn… Làm sao có thể biết rành rẽ tất cả mọi điều như thế? Anh đã đầu tư cho kiến thức như thế nào?

Tôi sẽ nghĩ ra đề tài để viết sau khi đã đầu tư công sức trong một quãng thời gian dài. Quá trình thu thập thông tin đã tích lũy những vấn đề hay, khi có biến động thời sự sẽ nảy ra cho mình đề tài thích hợp. Thí dụ, vấn đề Myanmar, tôi đã theo dõi hai, ba năm. Khi có biến chuyển thời sự ở nước này, tôi đã có đủ tư liệu và mối quan hệ để viết bài một cách đầy đủ. Làm báo là bán hàng, thông tin là chiến lược và thương mại. Nghề báo là một lý tưởng nhưng cũng là một sản phẩm kinh tế. Phải sản xuất, phải đầu tư thông tin, phải bán. Không nên mắc cỡ khi nói ra chuyện này. Tôi viết cho báo Việt Nam từ những gì ở nước ngoài đi vào. Viết cho châu Âu thì từ những gì châu Á đi ra.

Anh đã đầu tư những thông tin về mảng chính trị quốc tế như thế nào mà thường đáp ứng rất nhanh và có những bình luận sâu sắc về những sự kiện lớn?

Báo chí yêu cầu phải có ngay, nhưng nếu viết giống thông tấn thì không ai cần. Sự kiện xảy ra ở nước ngoài, nhà báo đang ở đó quan sát, chi tiết “màu mỡ” hay hơn, nhưng đó không phải tin tức. Thông tin ở chỗ khác. Thí dụ, kết quả bầu cử tổng thống ở Pháp, chỉ cần hơn bốn dòng là xong. Nhưng khi nghiên cứu chiều sâu: cơ cấu nền dân chủ, hệ thống, cương lĩnh như thế nào, giải thích vai trò truyền thông báo chí, dư luận trong bầu cử…, thì để làm được điều đó, các mối quan hệ cá nhân là cực kỳ quan trọng. Dựa trên lòng tin tưởng nghề nghiệp và tác phong làm việc, mới có được những thông tin mà đồng nghiệp không có. Tôi xây dựng quan hệ ở hai nơi: câu lạc bộ báo chí chuyên ngành và quan hệ với những người viết về khoa học chính trị… Tôi viết nhiều lĩnh vực, thể thao cũng có nhưng ít, chỉ có tài tử là không viết thôi.

Đặc biệt yêu thích viết mảng chính trị quốc tế, anh đã đầu tư cho lĩnh vực này như thế nào?

Chính trị quốc tế rất quan trọng. Không nước nào có thể sống được một mình, tất cả đều liên quan đến nhau. Ngay trong lĩnh vực kinh tế, một quốc gia bị cảm, sổ mũi là tất cả cũng bị lây liền. Mối quan hệ chính trị của các chính phủ trong Liên minh châu Âu là vùng tôi thích viết. Bất cứ lĩnh vực nào, kinh tế, chính trị, xã hội, nếu chỉ đọc tin thông tấn, nghe truyền hình thì hoàn toàn không đủ và quá trễ. Các tin thông tấn, kể cả các blog báo chí công dân tuy không phải dân nhà nghề nhưng đều cung cấp thông tin và có nhiều người đọc cả.

Báo chí chuyên nghiệp nhà nghề có trách nhiệm đi xa hơn và cung cấp những điều giúp xác định đúng, sai. Muốn độc đáo phải đi xa hơn. Tôi tham gia nhiều câu lạc bộ nhà báo quốc tế ở Paris, ở đó các phóng viên làm việc, gặp gỡ, cà phê, có khi mời bộ trưởng tới như họp báo bán chính thức. Thông tin bên lề rất quan trọng. Tôi tham gia các hội nghị quốc tế, các cuộc họp của nhóm G8, Liên minh châu Âu, viện nghiên cứu chính trị, các ThinkTalk (nhóm tư vấn)… Phải tổ chức nhiều nguồn dữ liệu, làm hồ sơ chính trị châu Á, các nước như Trung Quốc, Myanmar… Còn có những hồ sơ nhỏ hơn nữa về xã hội và vùng, khu vực. Trước đây tôi viết về Nam Mỹ, châu Phi. Đôi khi vì là thành viên của câu lạc bộ nghiên cứu, tôi được mời thuyết trình các vấn đề liên quan đến Việt Nam.

Khi đó, anh thường nói những gì?

Nói về vai trò, các quá trình chính trị Việt Nam từ 1945 đến nay, về tổ chức nhà nước, Đảng, Quốc hội, về một số mâu thuẫn tồn tại trong lĩnh vực kinh tế…

Người nghe thường hỏi và quan tâm đến những gì?

Họ hỏi những vấn đề về dân chủ, quan tâm đến vai trò của Quốc hội…

Anh viết cho nhiều báo lớn của Pháp và một số nước khác, vậy vì sao anh không trở thành phóng viên chính thức cho một tờ báo nào đó mà chọn con đường nhà báo tự do có vẻ không ổn định?

Nếu muốn trở thành phóng viên của một tờ báo, tôi cũng có đủ điều kiện. Nhưng trong tờ báo dù có tốt, có lý tưởng đi nữa cũng vẫn là các mối quan hệ con người, quan hệ nội bộ, cạnh tranh chức quyền… Làm như hiện nay, tôi được tự do 100%. Cái giá phải trả là cuộc sống không có kế hoạch. Thu nhập tháng có tháng không. Cuộc sống không ổn định. Có những bài đầu tư tốn kém hơn tiền nhuận bút. Nếu có gia đình thì càng chịu nhiều áp lực, nên 90% nhà báo tự do phải ly dị.

Hy vọng anh không sa vào số 90% đó chứ?

Cũng sa rồi. Thật khó biết được.

Theo anh, phải có những gì để trở thành một nhà báo giỏi?

Sống cho đàng hoàng, đạo đức. Chọn nghề báo là có lý tưởng rồi. Ở Pháp, nếu đi làm một thợ điện sướng hơn nhiều. Tôi tin vào truyền thông chính xác, chất lượng, sẽ làm cho xã hội phát triển. Xã hội là tập hợp những người bỏ lá phiếu bầu ra người lãnh đạo đất nước. Mình không kêu gọi, mà cung cấp cho họ thông tin, công cụ để biết cái hay, dở, tốt xấu. Làm báo được tiếp xúc với rất nhiều người thuộc nhiều tầng lớp xã hội, từ người ăn xin cho đến tổng thống. Nhà báo nhìn cuộc sống xám xám, không trắng cũng không đen. Không đưa những phán đoán cực đoan. Thấy một hiện tượng, phải nghĩ rằng sự thật phía sau chưa chắc như thế. Nhà báo là một người quan sát đưa sự thật đó cho người ta đọc, không nói hay, dở. Khi cần tỏ quan điểm thì viết xã luận.

Anh nghĩ gì về đạo đức nghề báo?

Chấp nhận cuộc sống, đừng mơ giàu, vì kinh tế không phải là cái gì quá quan trọng. Nếu viết tốt thì vẫn sống được. Thứ hai: phải có sự cứng rắn, bởi nghề này có những cám dỗ khủng khiếp.

Tôi đã có lần viết bài vì sao gạo Thái Lan là số một thế giới. Hiệp hội xuất khẩu gạo quốc gia này rất giàu, có tới 99% là người Thái gốc Hoa, họ mời mọc, đón tiếp. Tôi từ chối ở khách sạn năm sao, đưa đón bằng xe Mercedes. Họ gửi phong bì số tiền tương đương một tháng thu nhập, tôi phải cảm ơn không nhận. Viết cả tháng trời không bằng một cái phong bì, rất dễ cầm. Vậy nên khó nhất đối với nghề báo không phải là những luật lệ, mà là có chống chọi được với cám dỗ hay không, từ chối được hay không.Sống phải thật với mình, với mọi người. Hiền thì đừng làm ra vẻ dữ. Người ta nhận ra ngay, không tin tưởng, sẽ cho thông tin đến mức nào đó thôi.

Làm báo, kiến thức phải rộng. Thí dụ, viết về kinh tế cũng phải am hiểu tất cả, vì chúng đều có sự liên đới, tác động qua lại với chính trị, xã hội… Dù không trực tiếp đi nữa, cũng sẽ cho chúng ta sự phán đoán tốt. Trong thế giới ngày nay, thông tin truyền thông là một chiến lược để mà thắng.

Theo anh, tuổi già có đáng sợ với nhà báo lắm không?

Gừng càng già càng cay. Trẻ thì xông xáo. Phóng viên chiến trường phải chạy hàng chục cây số mỗi ngày thì người ba mươi tuổi chắc chắn có ưu thế hơn người năm mươi tuổi. Người ba mươi tuổi thấy cái gì bên ngoài rất nhanh, còn người năm mươi tuổi còn thấy được cả những gì phía sau. Tôi còn nhờ việc tham gia dạy học để thấy mình không “hết đát”. Sinh viên dở hơn mình, nhưng qua các câu hỏi ngây thơ của họ mình hiểu thêm những gì chưa biết. Có gì hay, mình truyền đạt cho học trò và học lại từ các em. Thầy trò cùng học chung. Nhà báo Jean Claude Pomonti của báo Le Monde đã ngoài bảy mươi tuổi, ông vẫn lang thang ở Bangkok viết bài. Ai đã theo nghề báo, chắc chỉ thôi không viết khi bị bệnh Alzheimer.

Anh có tham gia giảng dạy, xin anh cho nhận xét việc đào tạo nhà báo bên đó thế nào?

Có hai loại trường, một loại đại học năm năm, còn một loại là những trường lớn tuyển người tốt nghiệp các đại học khác rồi về đào tạo thêm hai năm. Năm đầu, học một số công cụ như cách điều tra, sử dụng thống kê, cách dùng từ ngữ… Năm sau, học các phương tiện báo in, điện tử, phát thanh, phóng sự truyền hình, sử dụng các công cụ cần cho nghề nghiệp… Có cả một đài truyền hình mô phỏng cho học viên thực hành.

Cuộc sống của một nhà báo tự do như anh có gì khác biệt?

Một năm tôi chỉ ở nhà một nửa thời gian. Đi làm phóng sự nhiều, ở khách sạn nhiều. Vì thế thời gian ở với gia đình tôi không làm việc vào buổi tối, vì chỉ lúc đó cả nhà quây quần đông đủ, phải dành thời gian ấy cho gia đình. Chỉ khi sáng sớm cả nhà còn ngủ, mới tranh thủ dậy sớm đọc sách, viết bài. Sử dụng thời gian chết khi di chuyển trên xe điện, phi trường để đọc sách.

Chắc ai sống với nhà báo tự do như thế, phải thông cảm lắm.

Nhà báo nhìn cuộc sống xám xám, không gì đen hay trắng hẳn. Tôi đã từng thấy những người rất giàu sau thành nghèo và ngược lại. Không cái gì mãi mãi. Bà xã tôi thường bảo “anh hay rắc rối”.

Nhưng chị hiểu anh?

Hiểu là một chuyện. Chấp nhận khó khăn hằng ngày là chuyện khác.

Anh có nhận xét gì về đặc điểm người đọc ngày nay?

Nhiều người “cái gì cũng biết nhưng không biết gì”. Mới đây, trên máy bay, tôi có ngồi cạnh một anh đi học tiến sĩ ở nước ngoài về. Anh giở tờ báo thấy bài về bà đại biểu Quốc hội Hoàng Yến đang đứng trước việc bị bãi nhiệm. Chỉ nhìn tấm hình (chắc mấy bữa đó nhiều báo đăng) anh ta bảo hình này thấy rồi, bài cũ, không đọc.

Anh tham gia viết báo Việt Nam nhiều, anh thích đọc những tờ nào nhất?

Tôi thích nhiều, trong đó có cả một số tờ báo nhỏ thôi, gần đây có báo Người cao tuổi viết về vấn đề đất đai có dựa vào luật rất tốt. Có lẽ vì người cao tuổi ở nông thôn nhiều và hiểu rõ chăng. Tờ Người lao động cũng tốt lên nhiều.

Là nhà báo nước ngoài hay về nước viết, anh thấy điều gì hay, dở ở Việt Nam?

Xã hội năng động, làm việc này không được, xoay làm việc kia, giống châu Âu ở chỗ đó. Quan hệ tình bạn lý tưởng. Nếu ở châu Âu bạn chỉ là bạn, thì ở đây người ta có thể bỏ cả bữa ăn trưa để làm điều gì đó cho bạn. Cái dở là tham nhũng, con ông cháu cha, thiếu lý tưởng chính trị. Nếu chọn lý tưởng cộng sản, theo con đường xã hội chủ nghĩa thì phải cố gắng thực sự để đạt tới nó. Còn thực tế, nhiều người không có lý tưởng gì hết. Miệng nói thôi, còn làm thì trật lất. Tôi gặp những người thế hệ kháng chiến, thấy họ có lý tưởng chính trị tốt hơn.

Nếu phóng viên trẻ muốn nghe một ý kiến về nghề nghiệp, anh sẽ nói gì với họ?

Đừng chỉ mơ làm việc to tát như đi viết chiến sự Trung Đông, mà chuyện kể nơi góc đường kia cũng hay vậy.

Xin cảm ơn anh về cuộc trò chuyện.

Theo Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần

Nguồn: Vietnamnet

Bài phát biểu tại lễ tốt nghiệp trung học gây chấn động nước Mỹ

Theo The Swellesley Report/Tuổi trẻ


Giáo viên David McCollough Jr khi đọc bài diễn văn gây sốc – Ảnh: The Swellesley Report
Phát biểu trong lễ tốt nghiệp của các học sinh lớp 12 Trường trung học Wellesley High ở bang Massachusetts (Mỹ) tuần trước, giáo viên tiếng Anh David McCollough Jr đã gây sốc khi nói thẳng.
Thế nhưng, bài phát biểu của David McCollough lại được nhiều tờ báo và hãng tin Mỹ đăng tải, và thu hút được hàng chục ngàn comment (bình luận) trên mạng Internet, phần lớn đều ủng hộ thông điệp của ông McCollough.

Trong bài diễn văn tại lễ tốt nghiệp năm 2012, thay vì lặp lại những câu sáo mòn như “Chúng tôi rất tự hào về các em”, “Các em rất tài năng”, “Thế giới là của các em”…, ông McCollough đưa ra một thông điệp mà giới truyền thông Mỹ mô tả là “Xin chào mừng các em đến với cuộc đời thực”.

Wellesley High là trường công nổi tiếng ở thị trấn giàu có Wellesley, có truyền thống lâu đời và từng sản sinh nhiều nhân tài cho nước Mỹ. David McCollough Jr là con trai của nhà sử học – nhà văn David McCollough, người từng đoạt giải thưởng Pulitzer.

Trước các học sinh của mình đang xúng xính trong bộ đồng phục tốt nghiệp giống nhau, đang háo hức cầm trên tay tấm bằng, McCollough dõng dạc nói rằng “Các em chẳng có gì là đặc biệt”, “chẳng có gì là phi thường”! Một gáo nước lạnh như được giội xuống mọi thành tích vẻ vang của trường!

Được chăm bẵm quá mức

Trước bao ánh mắt mở to sửng sốt, McCollough điềm nhiên nói tiếp: “Các em đã được hầu hạ tận miệng, nâng niu mỗi ngày, được nuông chiều, được bảo bọc cẩn thận. Vâng, người lớn đã ôm hôn các em, cho các em ăn, lau miệng… cho các em. Họ dạy dỗ, hướng dẫn, lắng nghe, động viên và an ủi các em. Các em được nâng niu, phỉnh phờ, dỗ ngon dỗ ngọt, được nghe toàn những lời nài nỉ.

Các em được người lớn ngợi khen đến tận trời xanh, được gọi là cục cưng. Đúng vậy đó. Chúng tôi đã ở bên cạnh các em trong các trò chơi, vở kịch, các cuộc biểu diễn âm nhạc, hội chợ khoa học. Những nụ cười tỏa sáng khi các em bước vào phòng, đáp lại mỗi tin nhắn trên Twitter của các em là những tiếng hô hào hứng. Và giờ các em đã chinh phục được trường trung học. Nhưng đừng lầm tưởng rằng các em là đặc biệt. Không có chuyện đó đâu nhé!”.

Đến đây, McCollough dẫn các học sinh vào một hiện thực đang chờ đợi mình. “Mỗi năm có ít nhất 3,2 triệu học sinh tốt nghiệp từ hơn 37.000 trường trung học trên toàn quốc. Đó là 37.000 học sinh tiêu biểu của các trường, 37.000 chủ tịch hội học tập, 92.000 giọng ca nổi bật, 340.000 vận động viên… Nhưng tại sao lại tự giới hạn chúng ta ở trường trung học thôi? Hãy thử nghĩ xem. Nếu cả triệu người mới có một người như các em thì trên thế giới 6,8 tỉ dân này sẽ có tới gần 7.000 người như các em. Hãy nhìn toàn cảnh. Hành tinh của chúng ta không phải là trung tâm Hệ mặt trời, Hệ mặt trời không phải là trung tâm Ngân hà, Ngân hà cũng chẳng phải là trung tâm vũ trụ. Các nhà thiên văn đã khẳng định vũ trụ không có trung tâm đâu, do đó các em không thể là “cái rốn” của vũ trụ. Ngay cả tỉ phú Mỹ nổi tiếng Donald Trump cũng chẳng là “cái đinh” gì”.

McCollough dẫn dắt tiếp: “Người Mỹ chúng ta giờ đây yêu các danh hiệu hơn là những thành công thật sự. Chúng ta coi danh hiệu là mục tiêu và sẵn sàng thỏa hiệp, tự hạ thấp các chuẩn mực, hoặc phớt lờ thực tế khi cho rằng đó là cách nhanh nhất hoặc duy nhất để có được những thứ có thể đem ra khoe mẽ, để có một vị trí tốt hơn trong xã hội… Hậu quả là chúng ta đang coi rẻ các trải nghiệm đáng giá, thế nên việc xây dựng một cơ sở y tế ở Guatemala trở thành chìa khóa để chạy xin vào học tại Bowdoin (học viện nghệ thuật nổi tiếng ở Mỹ) hơn là việc này vì cuộc sống của người dân Guatemala”.

Hạnh phúc không tự tìm đến

McCollough nhấn mạnh mục tiêu thật sự của giáo dục không phải đem lại lợi thế vật chất mà là sự hiểu biết, yếu tố quan trọng của hạnh phúc. “Trước khi các em tỏa đi khắp nơi, tôi kêu gọi các em hãy làm những gì mình yêu thích và tin tưởng. Hãy kháng cự lại sự thỏa mãn nhất thời, vẻ lóng lánh bề ngoài của vật chất, sự tê liệt của lòng tự mãn. Hãy xứng đáng với những lợi thế mà mình có”.

Sau khi khuyên các học sinh hãy tiếp tục đọc sách thường xuyên, phát triển ý thức về đạo đức, khẳng định cá tính, dám ước mơ, làm việc chăm chỉ và tư duy độc lập, yêu những người mình yêu hết mình, McCollough nhắc nhở: “Hãy làm như vậy một cách nhanh chóng, bởi mỗi giây phút đều quý giá. Cuộc sống hạnh phúc, có ý nghĩa là một thành tựu đòi hỏi nỗ lực, chứ không phải là thứ từ trên trời rơi xuống vì các em là người tốt hay vì cha mẹ đưa đến tận tay các em.

Các em hãy nhớ rằng những người tạo dựng nên nước Mỹ đã nỗ lực đảm bảo quyền được sống, được tự do và mưu cầu hạnh phúc. Mưu cầu là một động từ, và tôi nghĩ các em sẽ không có nhiều thời gian để nằm ườn một chỗ xem mấy trò nhảm nhí trên YouTube. Đừng mong chờ cảm hứng và niềm đam mê sẽ tự tìm đến với các em. Hãy đứng dậy, bước ra bên ngoài, tự mình khám phá, tìm kiếm cảm hứng cùng niềm đam mê và hãy giữ chắc nó bằng cả hai bàn tay”.

Kết thúc phát biểu của mình, ông McCollough nhắn nhủ các học sinh hãy tự chủ, độc lập, sáng tạo không vì sự thỏa mãn do hành động đó mang lại, mà vì những điều tốt đẹp nó đem đến cho người khác. “Và khi đó, các em sẽ phát hiện sự thật vĩ đại và lạ lùng của cuộc sống. Đó là lòng vị tha, sống vì người khác, và đó là điều tuyệt vời nhất các em có thể làm được cho bản thân. Những niềm vui ngọt ngào nhất trong cuộc sống chỉ đến khi các em nhận ra rằng mình không có gì là đặc biệt”.

Sự quan tâm thái quá của người lớn khiến cái tôi của bọn trẻ phình to. Do đó, tôi nghĩ chúng cần một cách suy nghĩ mới. Đưa chúng vào đời với cái tôi quá lớn chẳng khác nào làm hại chúng.

McCollough khẳng định. Trả lời phỏng vấn Fox News, McCollough giải thích ông muốn các học sinh hiểu rằng chúng phải nỗ lực nếu muốn thành công trong cuộc đời.

Nguồn: Tia Sáng

Hoa Kỳ tạm bỏ qua tranh chấp Biển Đông

Hoa Kỳ tạm bỏ qua tranh chấp Biển Đông

Tác giả: Kirk Spitzer

Người dịch: Trần Văn Minh

11-06- 2012

TOKYO – Các tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông đã xong, Trung Quốc đã thắng và Hoa Kỳ không quan tâm nữa. Nhưng điều đó không hẳn là xấu.

Trong khi những tranh cãi về việc ai làm chủ bãi đá ngầm, đá nổi và bãi cạn ở Biển Đông có lẽ sẽ còn kéo dài, Hoa Kỳ để dành sức lực cho trận chiến quan trọng hơn: giữ các tuyến đường biển quan trọng được tự do lưu thông mà không bị quấy nhiễu.

Cuộc đối đầu kéo dài hàng tháng ở một bãi cạn ngoài khơi mà cả Trung Quốc lẫn Philippines đều giành chủ quyền, tất cả đã chấm dứt vào cuối tuần này khi chính phủ Obama báo hiệu sẽ không can thiệp. Có nghĩa là, tàu tuần duyên Trung Quốc, kẻ đã đuổi chiến hạm Philippines ra khỏi bãi cạn Scarborough hồi tháng 4, sẽ trụ lại đó vô thời hạn, cả những tàu đánh cá và tàu khảo sát biển.

Đây là tin xấu cho các nước láng giềng. Trung Quốc tuyên bố chủ quyền gần như toàn bộ biển Đông, cùng với lượng dự trữ dầu hỏa, khí đốt khổng lồ và những tài nguyên thiên nhiên khác. Khu vực gồm quần đảo Trường Sa, bãi cạn Scarborough, những đảo nhỏ và các vũng cạn rải rác khác mà Việt Nam, Malaysia, Đài Loan, Indonesia và Brunei đã tuyên bố chủ quyền. Nếu Hoa Kỳ không can thiệp vào, đứng về phía Philippines, nước mà họ ký hiệp ước phòng thủ chung đã 60 năm, thì chắc chắn họ sẽ không làm như thế với bất cứ nước nào. Không có sự giúp đỡ của Hoa Kỳ hoặc các nước bên ngoài, thì các nước này sẽ khó có sự lựa chọn nào khác ngoài việc chấp nhận các tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc, và phải cắt bỏ bất cứ hợp đồng khai thác nào.

Đúng thế, điều đó có thể thúc đẩy Trung Quốc đưa ra những đòi hỏi mới (nhiều hơn nữa sau này), nhưng mối quan ngại lớn hơn là liệu Trung Quốc có dùng sức mạnh hải quân và không quân đang lớn mạnh để đe dọa các hoạt động trong vùng hay không. Hơn phân nửa các chuyến vận chuyển thương mại trên thế giới đi ngang qua Biển Đông, phần lớn là lượng dầu hỏa từ Trung Đông tới Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc và Đông Nam Á. Chỉ với sự hăm dọa cản trở sự thông thương đó cũng đủ tạo cho Trung Quốc lợi thế đáng kể trong bất cứ cuộc tranh cãi nào.

Theo ông Donald Weatherbee, giảng sư tại Viện Nghiên cứu Quốc tế Walker, thuộc Đại học South Carolina: “Hoa Kỳ sẽ không gửi Đệ Thất Hạm đội đến để giải quyết các vấn đề về thủy sản hay san hô ở Biển Đông, bởi vì đó không phải là lợi ích cốt lõi của Hoa Kỳ. Lợi ích cốt lõi quốc gia của Hoa Kỳ là tự do hàng hải. (Cho tới nay), Trung Quốc đã không làm gì chứng tỏ họ sẽ cố gắng đóng các tuyến đường biển qua lại của các tàu Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc, hoặc nước nào khác. Thời điểm mà Trung Quốc thách thức chúng ta bằng cách đó, thì vấn đề không còn là lợi ích quốc gia của Philippines hay Indonesia, mà là vấn đề lợi ích quốc gia của Hoa Kỳ”.

Nhưng trong lúc Tổng thống Obama không giữ vai trò trọng tài trong các tuyên bố chủ quyền (khuyến cáo việc giải quyết trong hòa bình, bằng con đường ngoại giao – chỉ đáng làm như thế), bi kịch ở bãi cạn Scarborough cho thấy, các tranh chấp như thế không có nghĩa là Trung Quốc không phải trả giá. Sau cuộc họp với ông Benigno Aquino III, Tổng thống Philippines, tại Hoa Thịnh Đốn hôm thứ Sáu, Tổng thống Obama đã nói, Hoa Kỳ sẽ tăng cường lực lượng hải quân trong khu vực và sẽ giúp các đồng minh như Philippines làm như thế (tăng cường sức mạnh hải quân).

Tới nay, Hoa Kỳ và Philippines đã đồng ý mở cửa căn cứ không quân Clark Air Base trước kia và căn cứ hải quân ở Vịnh Subic để luân chuyển binh lính Mỹ, [các tàu hải quân] thăm viếng các hải cảng và các cuộc tập trận; [Hoa Kỳ] hiến tặng 2 tàu tuần duyên quá nhiệm nữa cho hải quân Philippines; và gửi các dụng cụ ra-đa và giám sát biển để canh chừng “bọn lạ”. Mặc dù căn cứ Clark và Subic bị đóng cửa vào đầu thập niên 90, Hoa Kỳ vẫn giữ khoảng 600 lính thuộc Lực lượng Đặc biệt tại một căn cứ quân sự Philippines, ở phía nam đất nước này trong gần một thập niên.

Tất cả là một phần của việc “tái cân bằng” lực lượng quân sự Hoa Kỳ trong khu vực. Thủy quân lục chiến di chuyển tới Úc. Hoa Kỳ và Nhật Bản đang có kế hoạch xây dựng các căn cứ huấn luyện chung trên quần đảo Marianas. Các chiến hạm duyên hải mới tinh sẽ dùng cho căn cứ ở Singapore. Hoa Kỳ nhấn mạnh rằng, điều này không liên quan tới Trung Quốc, nhưng dĩ nhiên là hoàn toàn có liên quan.

Theo ông Jeffrey Hornung, phó giảng sư tại Viện Nghiên cứu An ninh, thuộc Trung tâm Á Châu-Thái Bình Dương ở Honolulu: “Trung Quốc xem việc này là một thí dụ của chính sách bao vây, bất kể Hoa Kỳ gọi đó là gì”.

Trong khi đó, Trung Quốc chẳng có bạn bè nào liên quan đến việc giải quyết tranh chấp tại Scarborough. Ngoài việc đưa tàu tuần có vũ trang và máy bay giám sát tới khu vực, Trung Quốc đã kêu gọi hủy bỏ hàng ngàn chuyến viếng thăm của du khách Trung Quốc tới Philippines, ngăn chặn các lô hàng nhập khẩu chuối từ Philippines, trị giá hàng chục triệu đô, và ngay cả hủy bỏ chuyến viếng thăm được nhiều người mong đợi của đội bóng rổ quốc gia Trung Quốc (Philippines nghèo nhưng mê bóng rổ, khó có thể biết được cách đáp trả nào mạnh bạo hơn).

Cuộc tranh chấp chắc chắn gia tăng sức mạnh cho phe diều hâu ở Nhật, nước này cũng có vấn đề với Trung Quốc trong vùng lãnh hải của họ. Trung Quốc đã lớn tiếng tuyên bố chủ quyền trên quần đảo Senkaku, mà họ gọi là đảo Điếu Ngư, kể từ khi một tàu đánh cá Trung Quốc bị bắt giữ gần quần đảo này sau khi va chạm với một tàu tuần duyên của Nhật vào năm 2010. Nhật Bản đã thả tàu và thủy thủ đoàn sau khi Trung Quốc đáp trả bằng cách không bán đất hiếm [cho Nhật], hủy bỏ các chuyến du lịch tới Nhật và bắt giữ một số thương gia Nhật với cáo buộc gián điệp. (sau này Nhật Bản chấp thuận giao cho Philippines 10 tàu tuần tra, nhưng [Nhật] nói rằng không liên quan tới chuyện tranh chấp với Trung Quốc)

Về phần mình, Trung Quốc đã giảm bớt tranh cãi với Nhật Bản trong những tháng gần đây và hứa sẽ không can thiệp vào quyền tự do hàng hải của bất cứ nước nào trong khu vực Biển Đông. Và có vẻ ngu xuẩn nếu [Trung Quốc] cố làm điều này. Với tỷ lệ chi tiêu quốc phòng hai con số [so với tổng sản lượng quốc gia], Trung Quốc vẫn còn nhiều năm mới có thể thách thức được sức mạnh quân sự Hoa Kỳ và Trung Quốc biết rõ điều đó. Trung Quốc cũng chẳng được lợi gì; kinh tế Trung Quốc hoàn toàn lệ thuộc vào mậu dịch giao thương đường biển và cắt đứt bất cứ đường hàng hải nào cũng có nghĩa là tự cắt đứt chính mình.

Vì thế, Hoa Kỳ đang nói với Trung Quốc rằng họ có thể vét hết thủy sản và dầu khí trên biển mà họ muốn – nhưng chớ có ý định phong tỏa tàu bè ở đó.

Nguồn: Time

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2012

Bản tiếng Việt © Trần Văn Minh

ÔNG PHẠM VŨ LUẬN-BỘ TRƯỞNG BỘ GDĐT ĐÃ TỪNG HỌC THẬT VÀ LÀM GIÁO VIÊN THẬT BAO GIỜ CHƯA?

ÔNG PHẠM VŨ LUẬN-BỘ TRƯỞNG BỘ GDĐT ĐÃ TỪNG HỌC THẬT VÀ LÀM GIÁO VIÊN THẬT BAO GIỜ CHƯA?

Ts Nguyễn Văn Khải – Ông già Ô-Zôn
(Tác giả gửi bài trực tiếp cho chủ blog Mai Xuân Dũng)


Mấy hôm nay tôi bận đi về các địa phương hướng dẫn cho bà con về đèn LED, pin mặt trời, phương pháp mới bảo quản hoa quả,và phòng dịch cho gia súc, gia cầm . Nhưng ở đâu tôi cũng phải trả lời những câu hỏi của mọi người về gian lận thi cử ở Bắc Giang trong đợt thi tốt nghiệp THPT vừa rồi.

Nếu xem lại lịch sử thi cử của nhiều nước, nhất là ở Trung Quốc và Việt Nam, thấy rằng chuyện gian lận trong thi cử xảy ra đã từ rất lâu,chỉ có điều “bề trên” xử lý thế nào mà thôi!

Kể từ ngày cắp sách đến trường,chỉ khi học Đại học tôi mới phát hiện ra đây là hiện tượng phổ biến và rất nguy hại cho những ai trung thực trong học tập.Cuối thế kỉ trước, trong một buổi họp mặt các bạn đồng môn khoa Vật lí-ĐHSP Hà Nội 2, một anh lớn hơn tôi khoảng mười tuổi, đã từng là giáo viên cấp 1 đi học đại học, cười hề hề vỗ vai tôi rồi nói:“tớ chép bài của cậu,chép cả câu sai cậu cố lừa tớ, nhưng tớ vẫn được điểm cao hơn”. Anh Phan Đình Văn (cựu hiệu trưởng trường cấp ba Điện Biên) khoái trá nói thật : “Tôi xui thằng Khải viết sai để các ông cóp cả câu sai vào bài đấy”. Tất nhiên sau khi để họ cóp xong, tôi phải xóa câu đã viết sai trong bài làm của mình đi. Dĩ nhiên người cóp bài của tôi luôn có thành tích học tập cao và ở lại giảng dạy ở  trường đại học.

Đầu năm 1968, khi trông thi lớp chín của một trường ở Hà Bắc làm bài kiểm tra Vật lí một tiết, tôi đã bắt quả tang một học sinh giở giấy dắt trong cạp quần để chép bài và một học sinh khác liên tục quay lại phía sau để hỏi bài.Tôi nhắc ba lần vẫn không chịu thôi.Chẳng cần phải làm biên bản, tôi tịch thu bài làm của họ và mời ra ngoài hành lang. Dĩ nhiên, điểm bài kiểm tra ấy sẽ là điểm không. Họp hội đồng giáo viên của trường, chẳng ai chê trách tôi cả. Cứ nói toạc ra theo quy chế giảng dạy dù bằng trên giấy hay miệng thì việc làm ấy của tôi là đúng.Hai người phạm lỗi phải tâm phục, khẩu phục. Những người khác đều ủng hộ tôi.

Đầu tháng 6 năm 1969. Lúc này những người cùng tuổi với ông Phạm Vũ Luận mới 14 tuổi, chắc đang học lớp 6 hoặc 7, còn tôi và thầy Huy là giáo viên của trường Đông Thụy Anh,Thái Bình đi trông thi ở một trường khác. Trước giờ bóc đề, người ta đã bắn tiếng cho chúng tôi rằng: Nếu chúng tôi “làm chặt” thì người ta cũng sẽ làm như thế ở trường chúng tôi .Ngay trong ngày đầu, là giám thị trong phòng, tôi đã bắt được hai thí sinh đem phao vào và đang xem để chép.Tất nhiên, họ đã bị lập biên bản và đình chỉ thi. Dĩ nhiên, bài thi bị hủy. Hôm sau tôi bị chuyển ra làm giám thị ngoài hành lang.Tôi đã nhặt được phao ném từ xa vào nhưng không bắt được ai nhặt phao.Sau buổi thi cuối cùng, tôi và thầy Huy bỏ cơm, phóng thẳng xe về trường mình trong đêm.Tối đó, ba lô của tôi có thêm mấy viên gạch, một gói cát và ở chỗ đèo hàng có cắm một cái cọc tre lớn dài gần 1 mét để phòng thân.

Khoảng ba mươi năm sau, một nữ học sinh cũ của tôi, sau khi đi trông thi đại học và cao đẳng đã gọi điện cho tôi báo rằng “đã nhờ công an đưa lên tận bến xe ở thị xã” vì lo sợ người địa phương hành hung các giáo viên coi thi nghiêm khắc. Nếu ai có thời gian xem lại các bài báo và các đoạn phim của các đài truyền hình về sự nghiêm túc trong thi cử từ năm 2005 trở về trước sẽ biết rằng sự gian lận trong thi cử đã phát triển và tái phát như thế nào từ năm 1969 đến nay. Bệnh dối trá trong xã hội đã không chừa một khoảng không gian nào cả. Những người đi dạy trẻ làm Người lại trở thành kẻ làm trẻ biến thành “người hư”. Họ không đáng là thầy cô dù rằng đã, đang lên lớp hoặc Quản lí ngành giáo dục.

Việc chống tiêu cực ở đâu cũng đều khó khăn và tính mạng của người chống tiêu cực đều bị đe dọa. Nếu học sinh ở Bắc Giang đợi hết giờ thi mới lên báo với Chủ tịch Hội đồng coi thi  về việc tất cả giám thị, thí sinh trong phòng thi đều tham gia gian lận thi thì chứng cứ ở đâu? ai thèm nghe? Tính mạng của người tố cáo có được an toàn không dù hành động này được coi là tích cực đáng được khen ngợi?

Trong quy chế giảng dạy cũng như quy chế thi cử của tất cả các nước trên thế giới đều không ghi : Quay clip các hiện tượng gian lận là vi phạm quy chế thi cử.<

Mười hai năm học ở các trường phổ thông, nhà trường XHCN Việt Nam dạy học sinh phải trở thành người trung thực.Đặc biệt nghị quyết trung ương bốn vừa rồi của đảng CS Việt Nam là đẩy mạnh phê và tự phê, cũng như hơn bốn năm trời Bộ Chính trị phát động  học tập,làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong đó có tiêu chí Trung thực.

Cho nên, không thể gọi việc ghi hình, ghi âm các hành động gian lận trong thi cử có tổ chức của mọi người trong hội đồng thi của một trường là hiện tượng ‘lấy tiêu cực chống tiêu cực”. Càng không thể nói rằng,việc đưa các hình ảnh này lên mạng là "gây ảnh hưởng xấu cho học sinh vì các em còn nhỏ tuổi". Nếu không có các hình ảnh ghi được và xuất hiện trên mạng, hỏi rằng làm sao những người trung thực có thể phê phán những kẻ gian dối? Làm sao mà có thể phát hiện ra những kẻ có bằng thật nhưng không có kiến thức? Làm sao đánh giá được năng lực quản lí của các cán bộ ngành giáo dục, làm sao có bằng chứng chống lại những lời cãi chày,cãi cối sống sượng của họ khi có người tố cáo những việc làm gian lận thi cử đó?

Gần đây trên báo chí có đưa tin về những bài báo khoa học của tiến sĩ Lê Đức Thông và cộng sự bị rút khỏi một số tạp chí khoa học quốc tế. Chắc mất rất nhiều công sức,ban biên tập các tạp chí này mới làm được việc này vì họ đã không ngăn chặn ngay từ đầu. Cho nên Bộ GDĐT phải chỉ thị cho Sở GDĐT Bắc Giang hủy các bài thi của các thí sinh phạm quy trong các phòng thi đã bị tố cáo là có gian lận,chứ không thể để chấm đợt một rồi chấm lại đợt hai. Những kẻ ăn cắp kiến thức của người khác đều có thể biến đổi một số câu hoặc chữ để các bài thi không trùng nhau, nên việc chấm lại lần hai có hai giám khảo rất dễ để lọt lưới những kẻ gian lận này.

Bộ GDĐT luôn kêu gọi thực hiện “hai không”. Hàng triệu người trông thấy những học sinh gian lận bằng nhiều cách,với sự hỗ trợ của các giám thị,vậy Bộ GDĐT hãy thực hiện khẩu hiệu mình hô hào: Cán bộ đi trước, làng nước theo sau như Bác Hồ dạy.

Đối phó với vụ việc gian lận thi cử tại Bắc giang, tôi không ngờ ông Phạm Vũ Luận lại có thể chỉ thị "cứ chấm thi bình thường" và gọi “việc quay clip là vi phạm quy chế thi cử và ảnh hưởng xấu đến trẻ em” . Việc cố tình đánh tráo khái niệm "vi phạm" của ông Bộ trưởng làm nhiều người rùng mình ghê sợ về sự thiếu tư cách của một cán bộ cao cấp ngành Giáo dục.

Hãy bỏ ra vài mươi phút để lên các diễn đàn mạng ai cũng thấy ông Bộ trưởng "không cần dấu ấn" này đang bị tất cả những ai đã từng giảng dạy, học tập đạo làm người  kịch liệt phản đối.

Chỉ có những ai không được học thật và dạy thật ở mái trường xã hội chủ nghĩa và đang hưởng ân huệ của ông Bộ trưởng ban phát mới ủng hộ  những lời nói, việc làm của ông Luận mà thôi.

Nguồn: Blog Mai Xuân Dũng

Cái đẹp, dối trá và…

Cả ba vụ việc trong tuần gây chấn động dư luận xã hội, mà chẳng vụ việc nào giống vụ việc nào. Nhưng nó đều là cái tham, sân, si của kiếp người và của cái thời kim tiền mà ra cả.

Cái đẹp và… cái nhơ

Vụ người mẫu, diễn viên H.H bị bắt vào chiều 24/5 tại nhà nghỉ của một khách sạn ở khu du lịch Đồng Mô (Sơn Tây, Hà Nội) vì tội bán dâm, giá “nghìn đô” chưa kịp lắng xuống, mới đây, cả xã hội rùm beng câu chuyện người đẹp chân dài M.X.

Từng đoạt giải hoa hậu khu vực Nam Mê Kông 2009 của các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long (thực chất là Giải Nhất cuộc thi Người đẹp Sóc Trăng, thuộc khuôn khổ Hội chợ nông nghiệp quốc tế Mêkông Expo Sóc Trăng, và giành Giải phụ “Thí sinh ứng xử hay nhất”), M.X bị bắt trong một đường dây bán dâm, có giá 2.500 đô/ lần, quy mô lớn.

Nhưng M.X chưa phải chân dài được trả cao nhất. Có tin, giá cao nhất là một chân dài khác, hàng sao, với 8000 đô/ lần. Đó là cái giá “xác thịt” mà làng vui chơi này tự thỏa thuận với nhau. Chứ còn giá nhân phẩm chắc đều đồng hạng… “vô giá” (số 0)

Đường dây bán dâm này hội tụ đủ mặt “anh thư”: Người mẫu, hoa khôi, diễn viên điện ảnh, sinh viên các trường đại học, chuyên nghiệp…, đóng trên địa bàn Tp Hồ Chí Minh.

Đặc biệt nữa, ngoài bán dâm, M.X còn kiêm nhiệm nghề “tú bà” chuyên tổ chức một đường dây bán dâm khác, quy mô nhỏ hơn với những cái tên “hot” không kém. Đó là Á khôi T.K, Hoa khôi Y.D, người mẫu N.T, hotgirl J.P…

Họ vốn gặp nhau ngang ngửa trên sàn thi hoa hậu, người đẹp, hoa khôi, người mẫu, thậm chí trên phim trường. Giờ lại ngang ngửa đọ tài bốc lửa trên sàn…bán thân xác. Nhìn những vẻ đẹp trong sáng, thanh tân ở họ, ai dám bảo họ từ trong những ổ “nhền nhện” vừa chui ra?

Và hài nhất, có thông tin từ một người đẹp, trước khi tranh ngôi thứ Người đẹp Sóc Trăng, M.X đã từng “làm gái”!  Tuy nhiên Ban Tổ chức cuộc thi ngay khi đó, đã rất tự tin trả lời dư luận, rằng họ có những tiêu chí riêng. Dành riêng cho M.X chăng?

Buồn cười nhất là giới showbiz Việt, giờ nhìn nhau, ai cũng ngờ ngợ như đó là kẻ …bán dâm.

Nhưng nói thật, những scandal của các chân dài chỉ đủ sức làm “đầu câu chuyện” đàm tiếu các bà, các cô công sở, làm tăng lượng hit cho các báo “lá cải” hoặc “lá cải hóa” mà thôi. Chả đủ gây sốc, gây thất vọng cho ai…

Bởi từ lâu rồi, cứ nói tới chân dài là y rằng, dính liền như hình với bóng các scandal. Trước, scandal còn là cái khái niệm xấu, chứ giờ, có khối chân dài lại thích tạo scandal. Bởi có thế mới PR, đánh bóng thêm tên tuổi mình trong làng giải trí, cũng là một cách “tiến thân” và hốt tiền nhanh.

Nói cho công bằng, tiến thân và có nhiều tiền, ai cũng thích, chả ai chê. Nhưng tiến thân theo cách nào, và kiếm tiền theo cách nào mới là điều đáng nói. Vinh ở đó, và nhục cũng ở đó.

Chả thế, trước đây ít lâu, có một phát ngôn khá ấn tượng của một chân dài đã làm rộn các trang mạng, vì nó vừa tự tin, lại cũng vừa xuẩn ngốc: Sắc đẹp cũng là một tài năng.

Trong khi sắc đẹp của các chân dài này, thực ra mới chỉ là phương tiện… “bán thân” mà thôi. H.H, M.X, T.K, Y.D, N.T, J.P và còn những ai ai nữa chưa bị lộ, chắc chắn không phải là ngoại đạo, trên con đường sử dụng “tài năng sắc đẹp” để tiến thân vào… ê chề!

Chợt nghĩ về “Giải ứng xử hay nhất” của M.X đoạt được trong cuộc thi, và cả những câu trả lời ứng xử của những chân dài khác. Hẳn là các cô học thuộc làu làu, nào là phục vụ nhân quần, làm từ thiện, nào là vì quê hương, xã hội. Thôi thì đủ ý tứ cao xa, thánh thiện.

Thế nhưng thực tế, các chân dài lại chỉ chăm chăm phục vụ các…đại gia lắm bạc nhiều tiền, rửng mỡ? Việc bán thân nhục nhã của các cô liệu có phải vì nhân quần? Hay chỉ  góp phần thêm vào sự băng hoại văn hóa, làm xã hội thêm bất an?

Cái Đẹp muôn đời được tôn vinh bởi nó hàm chứa những giá trị chân- thiện -mỹ. Nhưng khi đã dấn thân vào con đường bán thân, “cái đẹp” không chỉ bị các đại gia trước hết chà đạp bằng… nghìn đô, kèm sự khinh miệt trong lòng, mà “cái đẹp” khi đó cũng đã …nhuốm bùn.

Theo thông tin mới nhất, 4 đại gia này đích thị là đại gia… chân đất- nông dân, đều ở xã Vĩnh Lộc B, Vĩnh Lộc A, và xã Bình Hưng, thuộc huyện Bình Chánh chuyên nghề buôn bán đất đai.

Có một bài thơ nổi tiếng của một nhà thơ cách mạng trong quá khứ, an ủi kiếp đời dơ bằng những câu thơ nhân ái, thấm đẫm niềm thương số phận những người con gái không may lạc lối:

Ngày mai trong nắng trắng ngần/ Cô thôi sống kiếp đày thân giang hồ/ Ngày mai bao lớp đời dơ / Sẽ tan như đám mây mờ đêm nay/ Cô ơi tháng rộng ngày dài/ Mở lòng ra đón ngày mai huy hoàng…

Nếu còn sống đến tận hôm nay, nhà thơ nọ sẽ làm những câu thơ thế nào nhỉ? Ai đầy đọa các cô lạc lối vào bùn đen trong “ngày mai huy hoàng” này? Hay chính vì tối mắt trước cảnh giàu sang đột biến của không ít kẻ tham nhũng, làm giầu bất chính, mà các cô cũng quyết tự nhuốm bùn dơ, với tham vọng muốn biến sắc đẹp thành …tiền bạc thật nhanh, như một cổ tích thời hiện đại.

Tiếc thay thời nay, không có những ông tiên, ông bụt, mà chỉ có những gã, những thằng… phù thủy, yêu ma.

Và vì thế cái Đẹp, từ các cô, cũng đang biến thành…cái nhơ!

Dối trá nói về …dối trá

Một sự kiện khác nổi bật được xã hội bàn luận ầm ĩ không kém, là kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2012. Ầm ĩ vì  kỳ thi năm nay, có một đề thi Văn khá “mở” và ấn tượng: “Thói dối trá là biểu hiện của sự suy thoái về đạo đức trong đời sống xã hội”.

Cũng phải khen cho người ra đề, và ngành GD, đã bám sát thực trạng đạo lý xã hội, bám sát thông tin báo chí.

Nhưng khi ra một đề thi về sự dối trá, hoặc là ngành GD đã tự tay “vả”  vào mặt mình không thương tiếc. Hoặc ngành vô tình bắt thí sinh tiếp tục nói dối, khi đánh đố thí sinh phê phán thói dối trá.

Đánh đố, bởi từ lâu ngành mắc bạo bệnh dối trá- nói một cách văn vẻ là “bệnh thành tích”, và đã không có cơ cứu chữa.

Trong khi liên miên giơ cao khẩu hiệu Hai không, từ năm 2007 (nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích), thì chỉ sau năm đó đến nay, năm nào, tỷ lệ tốt nghiệp của các tỉnh, nhất là vùng GD khó khăn cũng “lội ngược dòng” một cách tài tình. Đến mức ngay các chuyên gia khảo thí cũng “botay.com”, không thể giải thích nổi hiện tượng này.

Có câu triết lý của một kẻ nào đó từ những thế kỷ trước: “Cứ nói dối, nói dối, nói dối mãi thì thiên hạ sẽ tin.” Khổ nỗi, đây là thế kỷ 21, thế kỷ của Thế giới phẳng, của IT, không phải thế kỷ của sự “độc tài” thông tin. Nên sự mất thiêng của ngành GD, không phải do cái tai thiên hạ quá thính. Mà do thiên hạ chỉ nhìn vào các việc làm để kiểm chứng khẩu hiệu của ngành.

Đánh đố, bởi có kỳ thi nào, thí sinh không có trò gian lận?

Chứng cớ là ngay lập tức, một clip (và nay được biết, có rất nhiều clip) quay về gian lận thi cử của cả giám thị coi thi lẫn thí sinh, ở Trường THPT dân lập Đồi Ngô (Lục Nam- Bắc Giang) được tung lên trên báo chí, như một minh chứng hài hước, châm biếm ngay chính ngành. Có gì buồn hơn thế? Và cũng có gì thật hơn thế?

Ngộ nhất, ngay cả khi dư luận xã hội đã xôn xao về clip gian lận thi cử này, thì Phó Chủ tịch UBND huyện Lục Nam Nguyễn Đức Toàn, qua báo cáo của các hội đồng thi vẫn cho biết: “Không phát hiện dấu hiệu gì khác thường”.

Ông Nguyễn Đức Hiền, Giám đốc Sở GD Bắc Giang hẳn rất đắng. Nhưng xét cho cùng, ông không nên quá buồn. Vì Trường THPT Đồi Ngô chỉ không may là đồng chí bị lộ trong số những đồng chí chưa bị lộ thôi. Điều này, hẳn  ngành GD cả nước phải biết rõ nhất!

Tác giả của clip là một giáo viên họ Đỗ, và một thí sinh dự thi. Hình như, cái mầm chống tiêu cực Đỗ Việt Khoa vẫn luôn nảy nở. Cho dù thực chất, Đỗ Việt Khoa- người châm ngòi cho việc chống tiêu cực, từng được vinh danh là “Người đương thời” đã… hết thời.

Nhưng số đông dư luận cho rằng, clip đó như một câu trả lời đích đáng trước những kết luận kỳ thi nghiêm túc, an toàn năm nào Bộ GD cũng nhắc đi nhắc lại như một điệp khúc nhàm chán.

Còn dư luận xã hội đang chờ đợi cách xử lý của Sở GD Bắc Giang công minh ra sao. Nếu không có những biện pháp kỹ thuật đầu tư (như mắc camera tại các phòng thi, điểm thi) thì biết đâu, năm nào ngành GD cũng phải đứng trước những vụ việc nan giải kiểu này.

Chỉ tội nhất là em thí sinh quay clip, đã dự tính “sự nghiệp” đi làm phụ xe khách, vì có thể, khi bị phát hiện là thủ phạm quay phim, em sẽ bị đánh trượt, bị cấm thi. Hay em đã tiên liệu được “quả đắng” đầu tiên trong đời về cái sự đấu tranh là…tránh đâu?

Người viết không muốn bình luận gì về động cơ của thầy giáo họ Đỗ, vì số phận thầy trước đó, đã có những mắc mớ riêng với Trường THPT Đồi Ngô. Người viết chỉ nghĩ rằng, dối trá của ngành GD đâu phải của riêng một trường học dân lập, mà từ lâu nó đã là căn bệnh ăn vào hệ thống. Vậy thì sự thẳng thắn của hai thầy giáo họ Đỗ, cho dù có đáng quý, rút cục chỉ là hạt muối chân thành bỏ xuống biển giả dối mà thôi.

Cả hai, đang là những chú “dã tràng” bé nhỏ, vô vọng!

Tiêu cực tài chính hay nhầm?

Thế nhưng, khi bàn về vụ việc động trời của mấy chân dài, có không ít người bảo, việc bán thân của các cô ấy, tuy có nhơ nhớp thật, nhưng họ chỉ bán “vốn tự có” của mình. Có ê chề, chỉ ê chề cho thanh danh cá nhân họ. Chứ họ không bán thanh danh quốc gia, làm nhục quốc thể.

Dự án bỗng thành … cái bánh ngọt của lòng tham…Chả thế, GS Nguyễn Kế Hào (Bộ GD- ĐT) từng có tổng kết rất hay về cơ chế này: Tiền+ Quyền lực dự án.

Ấy là sự ám chỉ, dư luận xã hội đang bất bình, phẫn nộ vì vụ việc, 3 dự án tài trợ của ODA do các cơ quan khoa học- công nghệ Việt Nam nghiên cứu, liên quan chủ đề biến đổi khí hậu, bị Đan Mạch đình chỉ vì phát hiện tiêu cực tài chính. Mà việc này lại được Bộ Ngoại giao Đan Mạch tuyên bố ngay trước thềm hội nghị nhóm tư vấn các nhà tài trợ (CG) giữa kỳ năm 2012.

Đó là Dự án mã số 09-P03-VIE do Trung tâm quốc tế nghiên cứu biến đổi toàn cầu (ICARGC) thuộc ĐHQG Hà Nội thực hiện, sai phạm 4,4 tỉ đồng. Là Dự án mã số P1-08-VIE do Viện Địa lí (Viện Khoa học – Công nghệ VN), sai phạm đến 5,3 tỉ đồng. Và Dự án Mã số P2-08-VIE do Viện hải dương học (cũng thuộc Viện KH- CNVN) sai phạm 1,3 tỉ đồng. Cả ba dự án sai phạm lên đến hơn 11 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 23% trên tổng số tiền 69 tỷ đồng tài trợ.

Tiêu cực tài chính của cả 3 dự án này đều do Công ty kiểm toán Price Waterhouse Coopers (PWC) thực hiện điều tra độc lập phát hiện, theo yêu cầu của Đan Mạch.

Tiêu cực tài chính là cách nói… lịch sự!

Tiêu cực tài chính ở các dự án, mà từ cán bộ quản lý đến nhân viên đều được tập huấn nghiệp vụ kỹ càng trước khi triển khai, chỉ có thể nói là cố tình, khó đổ tội cho sự vô tình hoặc yếu kém.

Nhất là có những khoản chi hàng tỷ đồng được sử dụng không có chứng từ. Chi cho nhân viên làm kiểm kê, thu thập số liệu trong khi họ đã được trả lương. Rồi chi lương, thù lao cho nhiều người… nhưng không rõ công việc cụ thể. Thậm chí, có hẳn cả khoản chi gần 900 triệu đồng làm học bổng cho con gái yêu của điều phối viên dự án, để rồi cô này, học xong rời viện ngay.

Dự án bỗng thành … cái bánh ngọt của lòng tham.

Không biết các chuyên gia quốc tế có ngạc nhiên không, chứ dân Việt, đặc biệt giới trí thức, khoa học hay làm các dự án, chả ai lấy làm ngỡ ngàng. Vì đây cũng không phải lần đầu tiên các dự án tài trợ theo vốn vay ODA phải… đỏ mặt xấu hổ. Tấm gương tày liếp Huỳnh Ngọc Sĩ (Dự án Đại lộ Đông Tây) còn rờ rỡ ra đó, nhưng chả ai thích soi.

Có điều giới khoa học- công nghệ, giới trí thức Việt, tư duy thì tự cho là mới, và cũng hay phê phán quản lý Nhà nước, nhưng lại thích viết chuyện … “ngựa quen đường cũ” thế không biết!

Còn nếu nhìn sâu vào cách triển khai một dự án, mấy ai biết nỗi đắng cay, khi nghiên cứu khoa học trở thành …công cụ kiếm sống, như báo SGTT Online (ngày 7/6) đã chỉ ra đích xác, với những cách làm lắt léo, ngóc ngách và tinh vi để người làm khoa học kiếm được chân làm dự án và mưu sinh? Chả thế, GS Nguyễn Kế Hào (Bộ GD- ĐT) từng có tổng kết rất hay về cơ chế này: Đó là Tiền+ Quyền lực dự án.

Con số hơn 11 tỷ không phải là con số quá lớn so với những con số nghìn tỷ thất thoát của nhiều dự án, công trình đi vay mượn khác, nhưng nó như chất “vữa” củng cố vững chắc thêm cái nhìn về sự “tham nhũng” không chừa bất cứ ai, bất cứ tầng lớp nào ở xứ sở này, cho dù đó là trí thức. Thật hổ thẹn!

Điều đắng hơn, giờ cứ nghe tới tài trợ ODA, là người ta lại nghĩ tới sự…đục khoét. Một sự bất tín, vạn sự bất tin là thế.

Thế nhưng, mới đây, một thông tin mới khiến “gió như được xoay chiều”: Kiểm toán cũng có thể nhầm! Đó là kết quả làm việc giữa Viện Địa lý Việt Nam, nơi có Dự án mang mã số P1-08-VIE triển khai, với Tòa Đại sứ Đan Mạch.

Theo ông Nguyễn Đình Kỳ, Viện trưởng, thì: “Họ (Công ty kiểm toán) không hiểu cách chi tiêu theo luật của Việt Nam”… Chi tiêu không vào túi ai cả, chỉ theo điều khoản này hoặc điều khoản khác.” Có điều, ông Kỳ cũng thừa nhận không thể giải thích cụ thể vì sự phức tạp của vấn đề.

Nhưng đó mới là chuyện của riêng Dự án thuộc Viện Địa lý. Còn hai dự án kia vẫn nằm trong dấu hỏi (?) của dư luận xã hội.

Lạy trời! Lúc nào thì hai Dự án của ĐHQG Hà Nội và của Viện Hải dương học (cũng thuộc Viện KH- CN Việt Nam) lại tiếp tục ra được kết luận: Kiểm toán nhầm! Để như cái “anh” Dự án của Viện Địa lý có quyền í a: Anh hay, anh đứng một mình vẫn… hay!

Giới chân dài đang biến cái Đẹp thành…cái nhơ

Còn giới trí thức, thông minh thế, mẫn tiệp thế, sao lại để cho cái Trí thành… cái nhầm nhỉ?

Kỳ Duyên

Nguồn: Vietnamnet

Tư tưởng lập hiến ở Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám năm 1945

Viện Nhà nước và Pháp luật xin giới thiệu đến bạn đọc bài viết của PGS.TS. Thái Vĩnh Thắng – Đại học Luật Hà Nội, được đăng trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 11/2011.

Lịch sử lập hiến Việt Nam bắt đầu từ năm 1946 khi bản Hiến pháp đầu tiên được Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa thông qua. Tuy nhiên, tư tưởng lập hiến đã xuất hiện ở Việt Nam trước đó khoảng gần một thế kỷ, sau khi bản Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ năm 1776, Hiến pháp nước Mỹ năm 1787 và Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền nước Pháp năm 1789 ra đời, đặc biệt vào những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX khi những luồng gió mới của chính sách Duy tân của Minh Trị Thiên hoàng ở Nhật Bản và Cách mạng Trung Hoa năm 1911 thổi vào Việt Nam. Tư tưởng lập hiến Việt Nam đã xuất hiện trong giới trí thức Việt Nam mà tiêu biểu là Nguyễn Trường Tộ, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Bùi Quang Chiêu, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn An Ninh, Phan Văn Trường, đặc biệt là tư tưởng lập hiến của nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc.

1. Tư tưởng cải cách nhà nước của Nguyễn Trường Tộ (1830-1871)
Tư tưởng lập hiến xuất phát từ tư tưởng xây dựng nhà nước mà quyền lực của nó phải xuất phát từ nhân dân và quyền lực của người đứng đầu nhà nước (Vua, Tổng thống) phải bị hạn chế. Tư tưởng xây dựng một nhà nước như vậy xuất hiện đầu tiên ở Việt Nam là tư tưởng của Nguyễn Trường Tộ vào những năm 60 của thế kỷ XIX. Trong các tác phẩm: Thiên hạ phân hợp đại thế luận, Dũ tài tế cấp luận, Giáo môn luận, Tế cấp bát điều, Nguyễn Trường Tộ đã đề nghị hàng loạt cải cách về kinh tế, chính trị, quân sự, văn hoá, xã hội. Về cải cách nhà nước, Nguyễn Trường Tộ đưa ra ba nguyên lý cơ bản là: Quốc dân nhất thể, Thượng hạ tình thông và Quân chủ thần quyền:

– Theo Nguyễn Trường Tộ, quốc dân nhất thể là nhà nước với nhân dân đồng một khối thống nhất, không mâu thuẫn, không đấu tranh, xem như một cơ thể, một thân người. Nguyễn Trường Tộ viết: “Lấy bề ngoài mà xét thì quốc và dân vốn phân biệt, nhưng theo cái lý tự nhiên tương sinh mà xét thì nó hình thành cho nhau, kết hợp nhau khăng khít không phải như bầu bạn muốn hợp, muốn ly, muốn dựa vào nhau hay không đều do mình tự quyết định. Một nước như một cơ thể, một bộ phận cơ thể bị đau thì cả cơ thể vì đó mà bất an; quốc gia với nhân dân, tất thảy đều như huyết mạch trong thân thể con người. Nếu có sự ủng trệ, không lưu thông thì tất nhiên sinh ra bệnh tật”.

Thượng hạ tình thông là mối quan hệ giữa quốc và dân, ấy là cơ sở của mọi chính sách lớn. Nguyễn Trường Tộ giải thích: “Trị nước phải cho cái tình được thông. Tình là cái sẵn có của dân. Trên dưới tình thông, không có cái gì vượt qua được điều ấy trong những chính sách lớn của quốc gia”. Căn cứ vào nguyên lý “Thượng hạ tình thông”, Nguyễn Trường Tộ đã phê phán chính trị lúc bấy giờ là: người trên thì rất xa với kẻ dưới mà kẻ dưới thì kiếm cách lừa dối, che giấu người trên; quyền lệnh của nhà nước thì giảm sút mà gian ngụy của dân ngày càng nảy nở; bởi vậy cho nên trên dưới khác lòng, tình không thông mà tắc, bên nào cũng muốn chiếm phần hơn cho mình cho nên nhà nước yếu đuối. Nguyễn Trường Tộ phê phán cái thực trạng “kẻ mạnh, kẻ yếu nuốt nhau, ăn ở với nhau như cái mâu, cái thuẫn, nhiều kẻ cho rằng nước mặc nước, ta mặc ta, thờ ơ”1. Theo ông, mặc dù pháp luật là chỗ dường như chỉ nhận có chữ lý mà bài trừ chữ tình thì ở đó chữ tình vẫn bị chi phối: “Pháp luật nghiêm thì hình như là vô tình mà kỳ thực là hữu tình tột mực. Khổng Minh nói rằng trị đời thì lấy đại đức mà không lấy tiểu huệ là ý đó vậy”2. Nguyễn Trường Tộ đã hoàn toàn đúng khi ông nhận xét rằng: “Ở các nước phương Tây lập pháp rất chặt chẽ, vì chặt chẽ mà trở thành khoan dung, ai nấy đều ở trong vòng pháp luật, không thể lừa dối nhau được, cho nên không sinh lừa dối mà cũng không nghĩ đến lừa dối, thấy dễ chịu, thấy pháp luật khoan dung. Ở phương Tây chưa từng nghe nói tha tô, miễn thuế mà dân với nước vẫn có tình thân hơn nước ta rất nhiều”3. Nguyễn Trường Tộ là một trong rất ít những người Việt Nam lúc bấy giờ hiểu được nền pháp trị của tư sản cao hơn cái gọi là “đức trị” hay “nhân trị” của phong kiến phương Đông.

Quân chủ thần quyền theo Nguyễn Trường Tộ không phải là chế độ quân chủ chuyên chế mà là xây dựng một nền quân chủ lập hiến, quyền lực cả nước phải ở trong tay Vua, nhưng Vua phải đặt mình trong pháp luật, không nên vượt ra ngoài. Quyền hạn to thì trách nhiệm nặng, quyền lực là phương tiện mà phúc lợi nhân dân là mục đích. Theo ông, “một nước cũng như một nhà, đối với cha mẹ, cái quan trọng nhất là bầy con thì đối với triều đình cái quan trọng nhất là dân chúng. Cái cong, cái thẳng đều công bố trước thiên hạ; mọi việc đặt xuống, cất lên đều lệ thuộc vào sự bình nghị của dân chúng”4. Tư tưởng chính trị của Nguyễn Trường Tộ là xây dựng một chế độ quân chủ nghị viện hay nói một cách khác là nền quân chủ lập hiến.

2. Tư tưởng xây dựng chế độ quân chủ lập hiến của Phạm Quỳnh
Vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX một cuộc bút chiến đã xảy ra giữa Phạm Quỳnh (lúc đó là Chủ bút Tạp chí Nam Phong) và Nguyễn Văn Vĩnh về vấn đề trực trị hay quân chủ lập hiến. Nguyễn Văn Vĩnh chủ trương bãi bỏ chế độ vua quan ở miền Bắc, miền Trung và đặt dưới quyền cai trị trực tiếp của Chính phủ Pháp. Còn Phạm Quỳnh cho rằng, có thể cải tạo chế độ vua quan cũ bằng việc xây dựng một chế độ quân chủ lập hiến, theo mô  hình  của  Anh và Nhật5. Theo Phạm Quỳnh, có thể xây dựng một bản Hiến pháp theo đó có thể vừa đảm bảo quyền dân chủ cho nhân dân Việt Nam, quyền cai trị của Hoàng đế Việt Nam và quyền bảo hộ của Chính phủ Pháp. Hiến pháp này được nhiều người gọi là Hiến pháp chân vạc. Tư tưởng xây dựng chế độ quân chủ lập hiến được Phạm Quỳnh lý giải trên Tạp chí Nam Phong do ông làm chủ bút: “Quân chủ lập hiến là quốc vương đem một phần chính quyền của mình mà nhường cho một hội nghị thay mặt dân. Nhưng muốn nhường quyền thì trước hết phải có quyền đã, rồi phải biết nhường quyền ấy cho ai”6. “Theo về lối quân chủ lập hiến nghĩa là bản Hiến pháp cho dân cùng được tham dự một phần vào việc nước bằng một hội nghị bầu cử, quyền hạn rộng hẹp thế nào sẽ tuỳ theo trình độ dân mà định”7. Theo Phạm Quỳnh, lý do ông chọn mô hình quân chủ lập hiến là do tính chất ưu việt của hình thức chính thể này. Phạm Quỳnh đã tranh luận quyết liệt vấn đề này với các nhà tư tưởng lập hiến khác như Phan Chu Trinh và Nguyễn Văn Vĩnh tại Paris năm 1922 nhân dịp phái đoàn Nam triều sang Pháp dự triển lãm: “Có lẽ ở đây tôi đã thấy có rất nhiều lập trường tranh đấu chống lại chủ thuyết mà tôi vẫn hoài bão: quân chủ lập hiến. Nói đến nền quân chủ thì phần đông tỏ vẻ lo sợ chế độ chuyên chế. Nhưng xin nhìn hai nước Anh và Nhật. Với nền quân chủ, họ đã văn minh tột sức và dân chủ hơn các nền dân chủ cộng hoà khác nhiều lắm; họ có thể đứng vào đàn anh trên toàn cầu. Vậy tôi chủ trương quân chủ lập hiến, trong đó vua chẳng còn quyền hành gì trong tay mà chuyên chế được. Vua chỉ là người đứng lên thừa hành bản Hiến pháp mà chính những người đại diện nhân dân toàn quốc được triệu tập dự thảo và quyết định. Như thế, chúng ta có một chế độ trường cửu do ý dân tự tạo cho mình. Chớ như chế độ cộng hoà hay dân chủ thì sợ mỗi lần sau bốn năm có thay đổi Tổng thống thì phải thay đổi tất cả làm cho guồng máy hành chính trong nước phải bị xáo trộn trầm trọng”8. Trong bài báo: “Vấn đề lập hiến cho nước Nam”9 đăng trong Tạp chí Nam Phong, Phạm Quỳnh đã trình bày những ý tưởng cơ bản của mình về chế độ quân chủ lập hiến: “Đặt ra cho Chính phủ quân chủ, giao cho quan trường cai trị, chúng tôi cũng bằng lòng. Nhưng quan trường như quan trường hiện nay, triều đình như triều đình bây giờ thì chúng tôi xin chịu, chẳng qua là cái lợi khí bất lương trong tay Chính phủ Pháp cả. Vậy xin sửa đổi quan trường lại, sửa đổi triều đình lại, làm cái cơ quan cốt yếu của một Chính phủ Việt Nam chân chính, có Hiến pháp hẳn hoi, định quyền hạn rõ ràng của vua, của dân, của bảo hộ, nếu được như thế thì chúng tôi xin biểu đồng tình ngay”10. Lập luận cho tính cấp bách của việc ban hành Hiến pháp, Phạm Quỳnh viết: “Cần phải lập ra một cái Hiến pháp khiến cho có thể đặt được một Chính phủ Việt Nam  chân chính, hành động ở  dưới quyền kiểm soát của bảo hộ. Như thế thì quyền quân chủ nước Nam sau này không thể là quân chủ chuyên chế được nữa; phải là quân chủ lập hiến vậy”11Việc nội trị của nước Nam vẫn phải ở trong tay người An Nam, bảo hộ chỉ có cái chức trách khuyên bảo, cái chức trách kiểm soát mà thôi. Quốc vương An Nam vẫn giữ quyền nội trị trong nước như xưa. Khi Chính phủ Việt Nam với Chính phủ bảo hộ có điều xung đột, thời việc phân tranh sẽ đem điều đình tại Paris bằng phương pháp ngoại giao và ở Paris sẽ đặt một phái bộ An Nam thường trực để thay mặt cho Chính phủ Việt Nam ở trước Chính phủ Pháp”12.

Mặc dù có tinh thần yêu nước, nhưng tư tưởng lập hiến của Phạm Quỳnh khó có thể thực hiện được vì đất nước còn bị đô hộ và phụ thuộc nước ngoài, không có độc lập, tự do thì không thể có Hiến pháp thực sự được.

3. Tư tưởng lập hiến của Bùi Quang Chiêu, Nguyễn Trực và Đảng lập hiến ở Nam Kỳ
Theo GS. Trần Văn Giàu, sau chiến tranh thế giới thứ nhất, cũng như trước đó, báo chí ở Nam Kỳ thịnh hơn ở Bắc: năm 1920 ở Nam Kỳ có đến mười tờ báo quốc ngữ và một vài tờ báo Pháp ngữ của người Việt Nam13. Giữa những năm 20 của thế kỷ XX, do ảnh hưởng của các cuộc cách mạng và cải cách trên thế giới, tình hình chính trị Nam Kỳ trở nên sôi động, xuất hiện nhiều phong trào quần chúng lớn, nhiều tổ chức chính trị có hoạt động đáng kể. Nổi bật trong phong trào đó có Đảng lập hiến mà người đứng đầu là Bùi Quang Chiêu (kỹ sư) và các thành viên điển hình là Nguyễn Phan Long (nhà báo), Nguyễn Trực (nhà báo), Dương Văn Giáo (luật sư), Trần Văn Đôn (bác sĩ),  Trương Văn Bền (nhà tư sản), Diệp Văn Kỳ (sinh viên luật ), Trần Văn  Khá, Lê Quang Liêm, Nguyễn Tấn Dược, Nguyễn Kim Đính, Nguyễn Văn Thinh… Cơ quan ngôn luận của Đảng lập hiến là tờ báo La Tribune  Indigène (Diễn đàn bản xứ) sau đổi tên là La Tribune Indochinoise (Diễn đàn Đông Dương). Lý giải về nguồn gốc ra đời của Đảng lập hiến, GS. Trần Văn Giàu viết: “Hồi chiến tranh đang diễn ra ác liệt, để làm tiền, bòn lúa, bắt lính, bắt phu, viên toàn quyền Đông Dương Albert Sarraut hứa hươu, hứa vượn, trong đó có hứa một Hiến pháp cho Đông Dương, lại có hình ảnh son phấn của một xứ “Đông Dương – nước Pháp Viễn Đông”. Bùi Quang Chiêu, Phạm Phú Khai, Nguyễn Phan Long… bám vào chữ Hiến pháp đó để lập ra Đảng lập hiến Đông Dương. Đảng lập hiến Đông Dương tự gọi là Đông Dương, kỳ thật nó không hề vượt ra ngoài ranh giới Nam Kỳ”14.

Có thể coi một loạt bài trên La Tribune Indigène năm 1919 là sự thể hiện  tư tưởng của Đảng lập hiến. Đáng chú ý là bài viết của Nguyễn Trực vào các số ngày 7, 8 và 14 tháng 1 năm 1919. Theo Nguyễn Trực, thế giới sau đại chiến thế giới lần thứ nhất là một thế giới đang biến đổi sâu sắc và phổ biến: Đông Dương và Nam Kỳ không thể là ngoại lệ. Ông viết: “Một luồng gió cải cách thổi qua khắp mặt trái đất, không nước nào không. Từ nước Trung Hoa mà người ta nghĩ đã hoá thạch trong cái huy hoàng  thiên cổ, đến nước Nga của các Sa hoàng, cha của  bọn bần nông, qua nước Đức đang sôi sục, nước Áo, Hung đang tan rã và nước Nhật ở đó Vua được tôn trọng như Trời, khắp các nơi tâm trí con người đang biến đổi sâu sắc, biến đổi chẳng những trong hiến pháp chính trị các dân tộc mà cả trong các ngành hoạt động khác của loài người. Từ trước chưa hề nghe người ta viết nhiều, nói nhiều đến những danh từ thần bí: tự do, nhân quyền, như bây giờ, chưa hề lúc nào tư tưởng con người chứa đựng những lời lẽ bác ái và nhân đạo như bây giờ”15.

Trong bài diễn văn đọc tại một tiệc trà của người Việt Nam tại Pháp vào tháng giêng năm 1926 được Đông Dương thời báo đăng lại ngày 10/3/1926, Bùi Quang Chiêu đã thể hiện sự bất bình của mình với chế độ thuộc địa mà người Pháp đã áp đặt tại Việt Nam: “Chúng ta xem lại cái lịch sử mấy ngàn năm của ông cha ta thuở trước, lại thấy cái năng lực của chúng ta về tinh thần và đạo đức, thì rõ được cái vận mệnh của nước nhà và chỉ noi theo đó mà đi. Cứ theo cái trình độ tiến hoá của chúng ta mà so với trình độ tiến hoá của các nước lân cận ta thì chúng ta phải chua xót, phải căm tức cho ai đã làm mất bao nhiêu thời giờ của ta, phí biết bao nhiêu tài sản của ta, hao biết bao nhiêu tinh lực của ta, khiến nay ta phải giậm chân lên mà la rằng: Đồng bào ơi, bước mau lên! Hãy cùng nhau quyết chí bước mãi tới đi… Chúng ta đâu có chối những sự tiến bộ về mặt vật chất ở xứ ta khoảng 60 năm nay, song chúng ta thử nghĩ nếu như họ dừng thi hành cái chính sách thuộc địa hẹp hòi, thiển cận kia, đừng vì những lợi ích trước mắt nhỏ nhen mà đè ép dân hồn, dân trí ta xuống, mà miệt thị những điều thỉnh cầu chính đáng của ta, thì cái bước đường tiến hoá của dân ta ngày nay há chỉ tới đây hay sao?”16.

Theo GS. Trần Văn Giàu, nhóm La Tribune Indigène mặc dù bất bình với chính sách thuộc địa nhưng lại thuộc vào những người tin vào khả năng cải cách tiến bộ của thực dân Pháp. Họ cho rằng suốt mấy năm chiến tranh, dân Đông Dương đã góp nhiều người, nhiều của cho Pháp thì dân Đông Dương tất nhiên phải có thêm quyền lợi mới, quyền lợi đó là chế độ chính trị xứ này phải được nới rộng cho người Đông Dương được tham chính. Báo này đã viết: “Suốt bốn năm chiến tranh, người Đông Dương đã có dịp  chứng tỏ một cách hùng hồn và rực rỡ với mẫu quốc cái lòng trung thành, lòng tri ân của mình. Song vì cái thể chế Đông Dương nó như thế, cho nên nhân dân không được khuyến khích phải lưu ý đến việc chính trị, tham dự vào sự nghiệp tiến bộ ở xứ này, việc ấy dành riêng cho các nhà cai trị làm gì thì làm theo cảm hứng của  họ, còn nhân dân thì bị động thôi”17. La Tribune Indigène nghĩ rằng, chế  độ trước đây là cần thiết phải như thế vì trình độ dân thấp kém, bây giờ thì dân đã có tiến bộ rồi nên “bắt đầu cảm giác bị chật chội ở trong cái chế độ chính trị đã trở thành hẹp hòi đối với trình độ tiến hoá của chúng tôi. Đã đến lúc phải nới rộng ra để cho phép người bản xứ tham gia một cách đắc lực vào đời sống công cộng của nước họ”. Theo GS. Trần Văn Giàu, Nguyễn Trực cũng như những người theo chủ nghĩa cải lương của báo La Tribune Indigène  nghĩ rằng phải tiến hoá từ từ, không nên đốt cháy giai đoạn nhưng cũng không nên vì lẽ “cẩn thận” nào mà cản trở sự phát triển tự do của một dân tộc đông hai mươi triệu. Tư tưởng chủ đạo của Đảng lập hiến của Bùi Quang Chiêu là xây dựng Hiến pháp và đấu tranh vì các quyền  tự do, dân chủ của dân An Nam bằng phương pháp đấu tranh ôn hoà, chống bạo động và trong khuôn khổ thừa nhận chính quyền bảo hộ của Pháp. Bùi Quang Chiêu đã có lần tuyên bố: “Tôi xin thề trước linh hồn ông Phan Chu Trinh  rằng, tôi xin tận tụy về việc nước, anh em đồng bào có thể tin cậy ở tôi, ở người lãnh tụ của Đảng lập hiến nước ta. Nhưng yêu nước không phải là xuẩn động, mà phải thân thiện với người Pháp, người Pháp là một giống người rất trọng công lý và nhân đạo; ta cứ tin ở người ta và liên lạc với người ta một cách thành thật. Vậy hãy nén lòng mà đợi, không phải cúi đầu mà đợi. Phải biết rằng người dám đợi tức là người có can đảm; đợi khi nào người Pháp không làm gì mà chỉ hứa suông thôi thì tới cái giờ đó ta sẽ xử trí sau”18.

Báo La Tribune Indigène có nhiều yêu cầu đối với Chính phủ bảo hộ Pháp, tuy nhiên đáng kể nhất là bốn yêu cầu:
“- Điều thứ nhất mà dân An Nam trông đợi là cải cách về tuyển cử, làm sao cho người An Nam được tham gia thực sự  và đầy đủ vào việc quản trị việc công ở xứ này. Người đóng thuế phải trở thành người công dân Đông Dương (Le citoyen indochinois), có thể qua đại biểu của mình mà có thể kiểm soát bộ máy cai trị một cách có hiệu lực.
– Điều cải cách thứ nhì, đồng thời với cải cách tuyển cử, là cho người An Nam được tự do ra báo, tự do ngôn luận.
– Điều thứ ba, xin có ngày cho Đông Dương quyền được tự trị đối với Pháp như Canada đối với Anh.
– Điều thứ tư, cho dân An Nam ban hành một bản Hiến pháp”19.

Cũng giống như Phạm Quỳnh, tư tưởng lập hiến của Bùi Quang Chiêu và Đảng lập hiến của ông mặc dù khó có thể thực hiện được khi đất nước còn bị thực dân Pháp đô hộ, tuy nhiên, việc công khai tranh luận và yêu cầu Chính phủ bảo hộ ban hành Hiến pháp và thừa nhận các quyền tự do dân chủ cho dân An Nam là thông điệp quan trọng của người dân bản xứ đối với chế độ thuộc địa, rằng cần phải thay đổi chế độ đó nếu không sớm hay muộn nó cũng sẽ bị sụp đổ. Người dân Việt Nam sẽ bằng cách này hay cách khác, sớm hay muộn sẽ giành lấy quyền tự chủ của mình, giành độc lập tự do cho đất nước, bảo vệ các quyền con người và quyền công dân của mình.

4. Tư tưởng lập hiến của Nguyễn An Ninh (1900 – 1943) và Phan Văn Trường (1876 – 1933)
Nguyễn An Ninh là một cử nhân luật, tốt nghiệp đại học Sorbonne, Paris năm 1920 khi vừa tròn 20 tuổi. Năm 1922, anh trở về Việt Nam và năm 1923 anh đã thành lập tờ báo La cloche fêlée (Tiếng chuông rè). Từ năm 1926,  tờ báo này đổi tên thành L, Annam và có sự cộng tác của Tiến sĩ-Luật sư Phan Văn Trường. Cùng với việc tuyên truyền các tư tưởng về tự do, dân chủ thông qua các bài viết trên báo La cloche fêlée, Nguyễn An Ninh và Phan Văn Trường  đã thể hiện tư tưởng lập hiến của mình. Nguyễn An Ninh đã viết: “Hỡi đồng bào, các bạn đòi tôn trọng tự do cá nhân, tự do tư tưởng, tự do lập hội, tự do giảng dạy, tự do đi lại, tự do làm việc; việc các bạn muốn dân tộc  An Nam  có những hội đồng là nơi mọi từng lớp xã hội được đại diện để chăm lo cho lợi ích chung, các bạn muốn có Hiến pháp để đảm bảo tự do và quyền lợi của các bạn…”20. Để tuyên truyền các quyền tự do dân chủ cho nhân dân, năm 1923 Nguyễn An Ninh đã biên soạn cuốn sách “Dân ước – dân quyền – dân đạo” mà tư tưởng chủ đạo của nó xuất phát từ tác phẩm “Khế ước xã hội”(Le contrat social) của J. J. Rousseau. Các số báo La Cloche fêlée từ 42 đến 68 đã đăng bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp và các Hiến pháp đầu tiên của Pháp: 1791, 1793, 1794. Về tổ chức bộ máy nhà nước, tư tưởng của Nguyễn An Ninh là xây dựng một chế độ cộng hoà trong đó có Nghị viện đại diện cho quyền lợi của dân phải bao gồm những đại biểu do dân chọn lựa bầu ra một cách dân chủ. Về tổ chức chính quyền địa phương, Nguyễn An Ninh đánh giá cao thể chế làng xã tự trị ở Việt Nam đã xuất hiện trong thời kỳ phong kiến và chủ trương duy trì thiết chế xã thôn tự trị, ông viết: “Đó là một cơ sở cộng hoà, có ban hương chức hội tề do dân bầu ra, có tổ chức nội trị, trong đó mỗi công dân đều có chức nghiệp, chức trách, một nghĩa vụ, với ngân sách riêng, cái cơ chế làng xã An Nam đã khiến cho những cơ chế dân chủ hiện đại tốt nhất cũng phải ghen tỵ”21.

Tiến sĩ – luật sư Phan Văn Trường cũng như Phan Chu Trinh là người đánh giá cao thuyết phân chia quyền lực và việc ứng dụng học thuyết này trong xây dựng Hiến pháp và tổ chức bộ máy nhà nước. Khi nói về Hiến pháp, ông luôn quan tâm đến việc phân quyền trong tổ chức bộ máy nhà nước: “Ở những nước có Hiến  pháp, cái chủ ngãi quan hệ nhất là cái chủ ngãi phân quyền  (principe de la separation des pouvoirs). Phân quyền nghĩa là lập nên những quyền trong quốc gia đứng tự chủ, không có quyền nọ phải lụy quyền kia, như là quyền lập pháp là quyền làm ra pháp luật, đứng tự chủ, không quỵ lụy quyền hành pháp là quyền thi hành những pháp luật đã ra rồi”22.

5. Tư tưởng lập hiến của Việt Nam quốc dân Đảng (1927-1930)
Việt Nam quốc dân Đảng được thành lập năm 1927 và chỉ tồn tại đến năm 1930 do Nguyễn Thái Học lãnh đạo. Việt Nam quốc dân Đảng lấy chủ nghĩa tam dân (dân tộc, dân quyền, dân sinh) của Tôn Dật Tiên làm chủ nghĩa chính thức, thực hiện chủ trương đánh đuổi thực dân Pháp, giành độc lập cho nước nhà bằng bạo động cách mạng. Theo TS. Phan Đăng Thanh, ở Việt Nam, từ năm 1925-1929  không có chủ nghĩa chính trị nào được bàn luận, phiên dịch, phổ biến nhiều bằng chủ nghĩa tam dân của Tôn Trung Sơn. Theo học giả Trần Văn Giàu: “Chủ nghĩa cách mạng của Tôn Dật Tiên bao gồm chủ nghĩa tam dân và Ngũ quyền Hiến pháp. Chủ nghĩa tam dân gồm ba bộ phận: chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa dân quyền và chủ nghĩa dân sinh. Còn ngũ quyền Hiến pháp là: lập pháp, hành pháp, tư pháp, củ soát và khảo thí”23.

6. Tư tưởng lập hiến của Phan Chu Trinh (1872-1926)
Một trong những chiến sĩ tiên phong khởi xướng và truyền bá tư tưởng dân chủ và tư tưởng lập hiến ở Việt Nam là Phan Chu Trinh. Vào  năm 1902, Phan  Chu Trinh  đã bắt đầu tiếp thu tư tưởng dân chủ tư sản phương Tây và những tư tưởng cải cách đất nước của Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Bạch. Những nguồn tư tưởng này giúp ông đề xướng tư tưởng “Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”. Phan Chu Trinh đã coi việc mở mang dân trí là tiền đề để xây dựng xã hội dân chủ. Là người kịch liệt phản đối chế độ quân chủ chuyên chế, ông đã viết: “Cái độc chuyên chế cùng cái hủ nho nhà ta đã trở thành chứng bệnh bất trị mà học thuyết tự do, dân quyền Âu Tây là vị thuốc đắng để chữa bệnh đó”24. Ông đưa ra tư tưởng dân quyền, chủ trương bầu cử những người xứng đáng vào bộ máy nhà nước.

Năm 1922, trong Thư thất điều gửi Hoàng đế Khải Định ông đã buộc tội nền quân chủ chuyên chế là nguyên nhân sâu xa làm cho dân tộc ta suy yếu và để mất độc lập, chủ quyền. Ông nêu ra 7 tội đáng phải chết của Khải Định là:
1.    Tôn bậy quân quyền;
2.    Thưởng phạt không công bình;
3.    Chuộng sự quỳ lạy;
4.    Tiêu xài hoang phí;
5.    Phục sức không đúng phép tắc quân vương;
6.    Chơi bời vô độ;
7.    Chuyến này đi Pháp với mục đích ám muội, duy trì quân quyền.

Công kích Khải Định ông viết: “Đó chẳng phải là công kích cá nhân Bệ hạ mà là công kích một hôn quân, cũng không phải vì tư kỹ của Trinh này mà làm, mà vì hai mươi triệu đồng bào xô ngã chuyên chế, ủng hộ tự do vậy”. Đề cao tư tưởng dân chủ tự do ông viết: “Nhật Bản là nước đồng chủng, đồng giống với nước ta, bốn mươi năm trước họ lập ra Hiến pháp cho dân được bầu cử Nghị viện, còn việc chính trị trong nước theo ý của dân chứ Vua không được chuyên quyền”25.

Tư tưởng xây dựng Hiến pháp và một nhà nước dân chủ thể hiện rất rõ trong bài diễn thuyết “Quân trị và dân trị chủ nghĩa” của ông tại Hội khuyến học Sài gòn: “Trong nước có Hiến pháp, ai cũng phải tôn trọng Hiến pháp, cái quyền của Chính phủ cũng bởi Hiến pháp quy định cho, lười biếng không được mà dẫu có muốn áp chế cũng không chỗ nào thò ra được. Vả lại, khi có điều gì vi phạm đến pháp luật thì người nào cũng như người nào, từ ông Tổng thống đến một người nhà quê cũng chịu theo pháp luật như nhau”26.

Phân tích chế độ quân chủ chuyên chế và chế độ dân chủ, Phan Chu Trinh đã chỉ ra những ưu thế của chế độ dân chủ: “So sánh hai cái chủ nghĩa quân trị và dân trị ta thấy chủ nghĩa dân trị hay hơn chủ nghĩa quân trị nhiều lắm. Lấy theo ý riêng của một người hay của một triều đình mà trị nước thì cái nước ấy không khác nào một đàn dê, được no ấm vui vẻ hay đói khát khổ sở tuỳ theo lòng của người chăn. Còn như theo cái chủ nghĩa dân trị thì quốc dân lập ra Hiến pháp, luật lệ, đặt ra các cơ quan để lo việc chung của cả nước, lòng quốc dân thế nào thì làm thế đấy, dù không có người tài giỏi thì cũng không đến nỗi phải để dân khốn khổ làm tôi mọi một nhà, một họ nào”27.

Không những cổ vũ cho thuyết dân trị, Phan Chu Trinh còn phân tích một cách sâu sắc những ưu thế của việc tổ chức bộ máy nhà nước theo nguyên tắc phân chia quyền lực của John Locke và Montesquieu: “Đây tôi nói về cái chính thể bên Pháp. Ở trong nước có Nghị viện gồm Thượng viện và Hạ viện. Hạ viện là viện quan hệ nhất; khi nào đặt Tổng thống hay thiếu mà đặt lại thì hợp người trong hai viện ấy mà bỏ thăm. Người ra ứng cử cũng ở trong hai viện ấy. Ai được nhiều thăm nhất thì chọn người ấy làm Tổng thống. Khi được bầu rồi thì Tổng thống phải thề trước hai viện rằng: Cứ giữ theo Hiến pháp dân chủ, không phản bạn, không theo đảng này, chống đảng kia, cứ giữ công bình, nếu có làm bậy thì dân trục xuất ngay. Còn Chính phủ cũng bởi trong hai viện ấy mà ra. Nhưng mà giao quyền cho Đảng nào chiếm số nhiều trong hai viện ấy mà lập ra Quốc vụ viện (tức Chính phủ, Nội các); theo Quốc vụ viện bây giờ chừng đâu cũng vài chục bộ nhưng không phải ăn không ngồi rồi như các ông Thượng thư bên ta đâu. Ông nào cũng có trách nhiệm của ông ấy cả. Cái gì mà không bằng lòng dân thế nào cũng có người chỉ trích…”. Phân tích cơ chế phân chia quyền lực ông viết: “Cái quan chức về việc cai trị chỉ có quyền hành chính mà thôi, còn quyền xử án thì giao cho các quan án là những người học giỏi luật lệ, có bằng cấp; các quan án chỉ coi việc xử đoán, có quyền độc lập, cứ theo lương tâm công bình, chiếu theo pháp luật mà xử, xử Chính phủ cũng như xử một người dân. Các quan án ở về một viện riêng gọi là Viện tư pháp. Quyền tư pháp cũng như quyền hành chính của Chính phủ và quyền lập pháp của Nghị viện đều đứng riêng ra, không hợp lại trong tay một người nào”28. Điều đáng lưu ý nhất trong tư tưởng lập hiến, lập pháp của Phan Chu Trinh chính là ở chỗ tuy đánh giá cao tư tưởng lập hiến, lập pháp của Montesquieu và Rousseau nhưng ông hoàn toàn chống lại những người tiếp thu một cách máy móc tư tưởng phương Tây. Trong bài diễn thuyết “Đạo đức và luân lý Đông Tây” ông gọi những người nho học cũ và bảo thủ là “hủ nho” còn những người tây học mất gốc, sùng bái nước ngoài vô lối là “hủ tây”. Ông nói rằng: cả “hủ nho” và “hủ tây” đều là loại người dân nước phải biết phân biệt để tránh cho xa, kẻo mang họa cho dân nước29. Như vậy có thể thấy, tư tưởng lập hiến, lập pháp của Phan Chu Trinh là gạn lọc những tinh hoa của tư tưởng dân chủ phương Tây cũng như những yếu tố dân chủ tốt đẹp của công xã nông thôn và đạo đức thuần khiết của  phương Đông để xây dựng một nền Hiến pháp và pháp luật cho nước nhà khi dân ta làm chủ đất nước30.

7. Tư tưởng lập hiến của Phan Bội Châu (1867- 1940)
Tư tưởng lập hiến của nhà yêu nước Phan Bội Châu hình thành và phát triển qua hai giai đoạn: Giai đoạn ông sáng lập Duy tân hội năm 1904 và giai đoạn sáng lập Quang phục hội năm 1912. Trong giai đoạn sáng lập Duy tân hội, tư tưởng của Phan Bội Châu là xây dựng chế độ quân chủ lập hiến. Trong “Phan Bội Châu niên biểu”, ông đã thuật lại cuộc tranh luận giữa ông và nhà yêu nước Phan Chu Trinh: “Ông (Phan Châu Trinh) thì muốn trước hết phải đánh đổ ngay quân chủ để làm cơ sở xây dựng dân quyền; Tôi (Phan Bội Châu) thì muốn đánh đuổi ngay giặc Pháp, đợi khi nước nhà độc lập rồi sẽ mưu tính đến việc khác. Ý tôi là muốn lợi dụng quân chủ, thì ông cực lực phản đối. Ý ông là muốn đánh đổ quân chủ, đề cao quyền dân thì tôi không tán thành. Vì ông với tôi cùng một mục đích nhưng thủ đoạn khác nhau rất xa. Ông thì đi từ chỗ dựa vào Pháp để đánh đổ Pháp, đánh đổ vua, tôi thì đi từ chỗ đánh đổ Pháp để phục lại Việt, do đó mà khác nhau”31. Sự khác nhau giữa Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh chủ yếu không phải là chọn chế độ quân chủ và cộng hoà mà là ở những phương pháp để đạt đến độc lập dân tộc. Phan Châu Trinh chủ yếu tin vào khả năng hoạt động hợp pháp, bằng cách cộng tác với chính quyền thực dân để thay đổi hiện trạng bằng một loạt cải cách dần dần. Phan Bội Châu muốn tập hợp lực lượng giải phóng dân tộc bằng đấu tranh vũ trang, sau đó mới tính đến các chuyện khác”32. Tư tưởng dân chủ của Phan Bội Châu đã có những phát triển đáng kể khi ông thành lập Việt Nam Quang phục hội vào năm 1912. Từ tư tưởng xây dựng chế độ quân chủ lập hiến ông đã chuyển sang chủ trương xây dựng chế độ cộng hoà và đã nhận xét rằng: “Chế độ cộng hoà dân quốc là hay là đúng”. Trong tuyên ngôn chính trị của Việt Nam Quang phục hội năm 1912 đã ghi rõ:
“Nay bản hội xét sau, xem trước,
Nghĩ cuộc đời thế nước bấy lâu,
Gần thì bắt chước theo tàu,
Xa thì người Mỹ, người Âu làm thầy”33.

8. Tư tưởng lập hiến của Nguyễn Ái Quốc (1890 – 1969) và Đảng Cộng sản Việt Nam
Nguyễn Ái Quốc sinh ra và trải qua tuổi thơ vào những năm cuối thế kỷ XIX, trong một gia đình nhà nho yêu nước, cha là Nguyễn Sinh Sắc (1863 -1929) đỗ Phó bảng cùng khoa năm 1901 cùng với Phan Châu Trinh, Ngô Đức Kế. Nguyễn Ái Quốc khi nhỏ có tên là Nguyễn Sinh Cung, sau đổi là Nguyễn Tất Thành, lớn lên và trưởng thành vào những năm thế giới đầy biến động. Ngay từ những ngày còn học ở Trường Quốc học Huế, Nguyễn Tất Thành đã khâm phục tinh thần yêu nước của các nhà cách mạng Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh. Tuy nhiên, sau này Nguyễn Tất Thành đã không lựa chọn con đường cứu nước bằng cách Đông Du sang Nhật hay đấu tranh đòi các quyền tự do, dân chủ và quyền tự trị của dân An Nam trong khuôn khổ thừa nhận chế độ bảo hộ. Nguyễn Ái Quốc đã bôn ba khắp năm châu, bốn biển từ Pháp đến Anh, Nga, Mỹ, Trung Quốc, Hồng Công…để tìm đường cứu nước. Năm 1919, Nguyễn Ái Quốc đã viết Bản yêu sách của nhân dân An Nam (Revendications du peuple Annamite) gửi Hội nghị Versailles (Hội nghị của những nước thắng trận trong đại chiến thế giới lần thứ nhất, ngày 18/6/1919). Bản yêu sách bao gồm 8 điểm:
1.    Tổng ân xá cho những người bản xứ bị án tù chính trị;
2.    Cải cách nền pháp lý ở Đông Dương bằng cách cho người bản xứ cũng được quyền hưởng những đảm bảo về mặt pháp luật như người châu Âu; xoá bỏ hoàn toàn các toà án đặc biệt dùng làm công cụ để khủng bố và áp bức bộ phận trung thực nhất trong nhân dân An Nam;
3.    Tự do báo chí và tự do ngôn luận;
4.    Tự do lập hội và tự do hội họp;
5.    Tự do cư trú ở nước ngoài và tự do xuất dương;
6.    Tự do học tập, thành lập các trường kỹ thuật và chuyên nghiệp ở tất cả các tỉnh cho người bản xứ;
7.    Thay thế chế độ ra sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật;
8.    Đoàn đại biểu thường trực của người bản xứ do người bản xứ bầu ra, tại Nghị viện Pháp để giúp cho Nghị viện biết được những nguyện vọng của người bản xứ34.

Năm 1922, Bản yêu sách này đã được Nguyễn Ái Quốc viết lại thành diễn ca với tựa đề “Việt Nam yêu cầu ca” để phổ biến rộng rãi trong giới bình dân ở Việt Nam và nước ngoài. Đáng lưu ý điều yêu cầu thứ bảy đã được thể hiện rõ là yêu cầu lập hiến:
“Bảy xin Hiến pháp ban hành
Trăm điều phải có thần linh pháp quyền”.

Ngay từ khi mới thành lập, Đảng Cộng sản Đông Dương, nay là Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng một nền pháp luật thể hiện ý chí của giai cấp công nông và quần chúng lao động.  Nghị quyết  Hội nghị trung ương Đảng lần thứ VII (tháng 11/1940) đã nhắc lại nhiệm vụ của cách mạng tư sản dân quyền và đề ra các nhiệm vụ cần thực hiện, trong đó có nhiệm vụ ban bố Hiến pháp dân chủ; ban bố các quyền tự do dân chủ cho nhân dân; tự do ngôn luận, tự do tư tưởng, tự do tín ngưỡng, tự do hội họp, tự do tổ chức, tự do bãi công biểu tình, tự do đi lại và tự do xuất dương.

Tóm lại, trước Cách mạng tháng 8/1945, mặc dù trong điều kiện phải hoạt động bí mật, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đặt ra nhiệm vụ hàng đầu là phải lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành độc lập, và để chuẩn bị xây dựng nước nhà trong điều kiện khi đất nước đã độc lập rồi thì phải ban bố Hiến pháp dân chủ để đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân.

Chú thích:
1. Xem: Trần Văn Giàu, Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng tháng Tám, tập 1,  Nxb. Chính trị quốc gia, 1996, tr. 390.
2. Sách đã dẫn, tr. 390.
3. Sách đã dẫn, tr. 390.
4. Sách đã dẫn, tr. 391.
5. Xem: Thái Vĩnh Thắng, Lịch sử lập hiến Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, 1997, tr. 12.
6. Tạp chí Nam Phong, số 189, tháng 10/1933.
7. Xem: Phan Đăng Thanh, Tư tưởng lập hiến Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX, Nxb.Tư pháp, 2006, tr. 182.
8. Xem: Sách đã dẫn, tr. 182-183.
9. Xem: Phạm Quỳnh, Vấn đề lập hiến cho nước Nam, Tạp chí Nam  Phong, số 151, tháng 6/1930.
10. Phạm Quỳnh, Vấn đề lập hiến cho nước Nam, Tạp chí Nam Phong, số 151, tháng 6 năm 1930.
11. Tài liệu đã dẫn.
12. Phạm Quỳnh, Câu chuyện lập hiến, Tạp chí Nam phong, số 173, năm 1932.
13. Trần Văn Giàu, Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng tháng Tám, tập 2, Nxb. Chính trị quốc gia, 1997, tr. 513.
14. Trần Văn Giàu, Lược sử thành phố Hồ Chí Minh, Địa chí văn hoá thành phố Hồ Chí Minh, tập 1, Nxb. Tp. Hồ Chí Minh, 1987, tr. 288.
15. Trần Văn Giàu, Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng tháng Tám, tập 2, Nxb. Chính trị quốc gia, 1997, tr. 513.
16. Sách đã dẫn, tr. 519.
17. Sách đã dẫn, tr. 514.
18. Sách đã dẫn, tr. 521-522.
19. La Tribune Indigène ngày 18/5/1919.
20. Nguyễn An Tịnh, Nguyễn An Ninh, Nxb. Trẻ tp. Hồ Chí Minh, 1996, tr.170.
21. Xem: Nguyễn An Tịnh: Nguyễn An Ninh, Nxb. Trẻ, tp. Hồ Chí Minh, 1996, tr. 134.
22. Xem: Phan Văn Trường, Pháp luật lược luận, Nxb. Xưa – Nay, Sài Gòn, 1926, tr. 18 -28.
23. Xem: Trần Văn Giàu, Hệ ý thức tư sản và sự thất bại của nó trước nhiệm vụ lịch sử, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997, tr. 551.
24. Xem: Phan Chu Trinh, Giai nhân kỳ ngộ, Nxb. Hướng Dương, Sài Gòn, 1958, tr.39.
25. Phan Chu Trinh: Bài diễn thuyết về quân trị và dân trị chủ nghĩa, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 67, tháng 10-1964, tr. 22.
26. Tài liệu đã dẫn.
27. Tài liệu đã dẫn.
28. Phan Chu Trinh, Thư thất điều gửi Hoàng đế Khải Định ở Paris năm 1922, Nxb. An ninh, Huế, 1958, tr. 22 – 26.
29. Đỗ Thị Hoà Hới, Tìm hiểu tư tưởng dân chủ của Phan Chu Trinh, Nxb. Khoa học xã hội, 1996, tr. 135.
30. Thái Vĩnh Thắng, Lịch sử lập hiến Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, 1997, tr.17.
31. Phan Bội Châu niên biểu, Phạm Trọng Điềm và Tôn Quang Phiệt dịch, Nxb. Văn, Sử, Địa, Hà Nội, 1957, tr. 72.
32. Xem: Chương Thâu, Nghiên cứu Phan Bội Châu, Nxb. Chính trị quốc gia, năm 2004, tr. 38.
33. Xem: Hợp tuyển Thơ văn yêu nước và cách mạng đầu thế kỷ XX (1900-1930), tr. 392
34. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995 – 1996, tr. 435-436.

PGS.TS. Thái Vĩnh Thắng – Đại học Luật Hà Nội

Nguồn: Website Viện nhà nước và Pháp luật

Thời kỳ phát triển kinh tế dễ dàng đã không còn ở Việt Nam

Thời kỳ phát triển kinh tế dễ dàng đã không còn ở Việt Nam

Tác giả: Bridget O’Flaherty

Người dịch: Dương Lệ Chi

Nguồn: Ba sam

10-06-2012

Sự lạc quan trong thời kỳ bùng nổ kinh tế ở Việt Nam trong giai đoạn trước năm 2008 đã không còn nữa. Đảng Cộng sản biết rằng họ phải hành động. Nhưng dường như họ chẳng biết phải làm gì.

Một bên của ngôi chợ Hoà Bình kiên cố và rộng lớn ở quận 5, TP Hồ Chí Minh, là một “ngôi chợ trời”, nơi những người bán hàng lắp các bóng đèn nhỏ trên hàng hóa và thịt cá của họ, và dây điện quấn vòng qua những chiếc ô dù lớn. Trong những dịp đặc biệt như ngày lễ, cảnh sát có thể xua đuổi họ, thậm chí bắt giữ hàng chục người buôn bán này. Đôi khi, hàng hoá bị tịch thu. Nhưng đó không chỉ là vấn đề của họ hiện nay.

“Kể từ năm ngoái, thu nhập của gia đình chúng tôi đã giảm 40%, chỉ còn gần một nửa thu nhập trước đây”, cô Phan Thị Khánh nói, khi cô sắp sửa lại các bắp xà lách trong một cái rổ tre nông.

Cô Khánh làm việc 16 tiếng một ngày và nói rằng cô mang về nhà từ 100.000 – 200.000 đồng (khoảng 5 đến 10 đô la). Cô nói rằng chồng của cô giúp cô trong công việc buôn bán, trong khi các cậu con trai của họ làm việc tại các nhà máy địa phương. Cô nói, mấy đứa con trai vẫn sống chung trong nhà, bởi vì tiền thuê nhà quá mắc, chúng không đủ khả năng để ra ở riêng.

Cô nói: “Hầu hết những người mua sắm ở đây là các công nhân nhà máy hoặc những người ngoại tỉnh. Người giàu chẳng mua sắm ở đây. Giá đã tăng, nhưng mức lương của người lao động không tăng, nên họ mua sắm ít hơn“.

Không rõ con số chính thức, nhưng người dân địa phương nói rằng, các cuộc đình công tại các nhà máy ngày càng gia tăng, do mức lương thấp và điều kiện làm việc tồi tệ. Lo lắng về tiền lương càng trở nên trầm trọng hơn do lạm phát leo thang trong những năm gần đây. Lạm phát lên tới đỉnh điểm 23% hồi tháng 8 năm ngoái, trước khi giảm xuống còn 18% vào đầu năm 2012. Nhưng vẫn còn ở mức hơn 8% hồi tháng trước. Trong khi đó, tăng trưởng kinh tế một lần nữa đã giảm xuống và có vẻ như không vượt quá 5,2% trong năm nay, theo tin từ chính phủ.

Chính phủ đang đáp ứng qua kế hoạch cải cách lớn trong ba lĩnh vực chính: lĩnh vực doanh nghiệp nhà nước chậm chạp, lĩnh vực ngân hàng và đầu tư công. Doanh nghiệp nhà nước đã bị lỗ lã quá nhiều trong nhiều năm. Thật vậy, công ty vận tải biển Vinalines là doanh nghiệp nhà nước, mà các phương tiện truyền thông chính phủ cho biết, đã “lãng phí” một tỷ đô la, chỉ là ví dụ rõ ràng nhất trong nhiều doanh nghiệp nhà nước. Ba giám đốc điều hành của công ty đã bị bắt, trong một lĩnh vực kinh doanh ước tính chiếm khoảng 40% nền kinh tế.

Trong khi đó, Tập đoàn Đóng tàu Vinashin đang đùa với trò phá sản sau nhiều năm quản lý yếu kém. Một trong những vấn đề được nhận diện là, công ty này đã chuyển hướng sang các thành phần kinh doanh “không căn bản”, như quản lý khách sạn.

Báo chí trong nước cho biết, trong một báo cáo gần đây gửi tới Quốc hội, cơ quan lập pháp của đất nước, chính phủ cho biết, các doanh nghiệp nhà nước đã cắt giảm chi tiêu gần 660 triệu đô la trong 5 năm, kết thúc vào cuối năm ngoái.

Tuy nhiên, các quan chức chính phủ ngày càng quan tâm hơn đến những vụ làm ăn thua lỗ lớn của nhà nước. Chẳng hạn như, ông Đỗ Văn Dương, Đại biểu Quốc hội TP HCM, đã nói với báo Thanh Niên:Đã đến lúc phải khởi tố, điều tra những dự án làm thất thoát tài sản của đất nước, để quy trách nhiệm rõ ràng”. Ông nói rằng các trường hợp gần đây như Vinashin và Vinalines chính là sự quản lý kém của doanh nghiệp nhà nước.

Các công ty hiện đang được yêu cầu phải công bố thu nhập, nhưng kế hoạch này chỉ đang ở giai đoạn đầu. Nhưng cho dù chính phủ có tuyên bố gì đi nữa, dường như cải cách thực sự sẽ không sớm xảy ra, khi các doanh nghiệp nhà nước đang chống lại sự thay đổi, đầu tư nước ngoài hay tái cấu trúc. Ngoài ra, nhiều người (âm thầm) than phiền rằng, các quy định của chính phủ để bảo đảm một lực lượng lao động lớn trong khu vực nhà nước và các dịch vụ [công] miễn phí cho người nghèo đang gặp vấn đề khó khăn, khi cố gắng nâng cao hiệu quả – họ than thở.

Năm ngoái, một số nhà kinh tế trong nước đã đưa ra những lời đề nghị thay đổi lớn nhất kể từ thời kỳ đổi mới, một chính sách bắt đầu từ năm 1986, đã mở cửa trở lại nền kinh tế của đất nước cộng sản bị cô lập, và là một hành động được nhiều nhà phân tích ghi nhận như là một động lực thực sự đằng sau sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng trong hai thập niên qua.

Tuy nhiên, một số nhà quan sát hoài nghi về những điều như thế. Ông Douglas “Pete” Peterson, cựu Đại sứ Mỹ ở Hà Nội đã nói về sự so sánh với thời kỳ đổi mới trong một cuộc phỏng vấn: “Ồ, tôi rất muốn nhìn thấy điều đó“. Ông Peterson là một tù nhân chiến tranh trong cuộc chiến Việt Nam và là Đại sứ Mỹ đầu tiên thời hậu chiến ở Việt Nam, phục vụ từ năm 1997-2001. “Đổi mới là một quyết định lớn, chỉ diễn ra một lần nhưng đã có được lợi ích về mọi mặt“.

Ông nói rằng đã có một số lợi ích tức thì từ chính sách đó. Ông Peterson nói: “Người dân không còn bị đói. Nông dân được trả lại đất đai, năng suất gia tăng nhanh và mọi người được bảo đảm đủ lương thực. [Trước khi cải cách], người dân bị đói đến chết trên đường phố“.

Tuy nhiên, một phần tư thế kỷ sau đó, niềm tin của người tiêu dùng đã xuống thấp. Thật vậy, theo công ty khảo sát thị trường Cimigo, trong tháng 10 năm 2011, niềm tin của người tiêu dùng đã giảm xuống mức thấp nhất từ trước tới nay.

“[Các số liệu của tháng 10] là số liệu thấp nhất mà tôi chưa từng thấy”, ông Richard Burrage, một đối tác quản lý của công ty nói thêm rằng, sự suy giảm như thế thường xảy ra ngay sau khi giá xăng đạt tới đỉnh cao. Từ cuối tháng 4 năm ngoái đến tháng 3 năm nay, chỉ số tiêu dùng thực phẩm và chỉ số giá xăng dầu đã gia tăng đều đặn.

“Với mức lạm phát đó, người dân kiếm được ít hơn so với trước đây”, ông Burrage nói, lưu ý rằng có “nhiều lạc quan hơn” trong thời kỳ bùng nổ kinh tế trước năm 2008.

Tuy nhiên, giá xăng dầu không phải là chỉ số duy nhất mà các nhà phân tích để mắt tới – doanh số bán hàng điện thoại di động được xem như một cách không chính thức khác để đánh giá niềm tin của người tiêu dùng trên khắp cả nước. Việt Nam có số lượng lớn người sử dụng điện thoại di động, hầu hết giới trẻ sở hữu một vài cái điện thoại.

Trương Thị Ái Châu, 30 tuổi, đã từng quản lý một cửa hàng điện thoại di động ở thành phố Hồ Chí Minh trong sáu năm. Nhưng cô nói rằng mọi thứ trở nên khó khăn hơn, không phải chỉ do các siêu thị hiện đang giảm bớt những cửa hàng bán lẻ nhỏ hơn.

Cô nói: “Bây giờ khó khăn hơn nhiều. Trước đây, họ có thể mua các hiệu đắt tiền, nhưng bây giờ họ chỉ cần mua một cái để xài“.

Jonathan Pincus, một kinh tế gia của Harvard, đã giảng dạy ở Việt Nam hơn tám năm, tin rằng, mặc dù Đảng Cộng sản đã xác định đúng ba lĩnh vực thật sự cần cải cách, nhưng vấn đề cần làm thực sự thì vẫn chưa làm.

Ông nói: “Có sự thiếu đồng thuận về cách thực hiện. Tôi nghĩ rằng không có sự bất đồng về ý thức hệ” giữa các đảng viên. Ông cho rằng, đó chính là sự cạnh tranh giữa các nhóm lợi ích đặc biệt hiện đang gây sự chia rẽ.

Với nhiều người bên ngoài, cách xử lý vấn đề của đảng nằm ở tầm mức từ không rõ ràng cho tới không thể hiểu được. Tuy nhiên, trong quá khứ, những gì đã rò rỉ ra bên ngoài cho thấy, có những rạn nứt bên trong nội bộ đảng và chính phủ, giữa các nhóm bảo thủ và nhóm cải cách.

Mặc dù, lần này có thể liên quan đến sự khác biệt lợi ích thương mại giữa các doanh nghiệp nhà nước và các nhóm khác. Chắc chắn, sau các thông báo rất rõ của chính phủ hồi năm ngoái, một số tin tức báo chí đã chỉ trích “lợi ích đặc biệt” do sự chống lại những cải cách quan trọng trong lĩnh vực doanh nghiệp nhà nước.

Họ cần phải làm gì đó, nhưng họ chẳng biết làm gì“, ông Pincus nói.

Kinh tế Việt Nam đã phát triển mạnh trong một thập niên theo sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á cuối thập niên 1990, cuộc khủng hoảng này đã đe dọa phá hoại những sự tiến bộ trong thời kỳ đổi mới. Tuy nhiên, trong năm năm qua, nền kinh tế đã xoay chuyển giữa các chu kỳ tăng trưởng và suy thoái.

Ông Pincus nói: “Các vấn đề khó khăn hiện nay là nghiêm trọng. Chúng ta sẽ bị kẹt trong chu kỳ tăng trưởng và suy thoái này cho đến khi mọi thứ được sửa đổi. Giai đoạn phát triển dễ dàng đã qua rồi“.

Nguồn: The Diplomat

TỪ NGUYÊN CỦA TỪ “VĂN HIẾN”

TỪ NGUYÊN CỦA TỪ “VĂN HIẾN” QUA BỐI CẢNH TRI THỨC NHO GIÁO VIỆT NAM- TRUNG HOA (Trần Trọng Dương)

Đã đăng: Tạp chí Nghiên cứu Văn hóa. Hà Nội. số tháng 3/2012. tr.5- 14.

(Trích đăng)

“Văn hiến” là khái niệm trước nay hay được sử dụng trong nhiều công trình nghiên cứu, nhất là nghiên cứu về lịch sử văn hóa Việt Nam thời Trung đại. Đây là một thuật ngữ của Nho gia có lẽ đã được sử dụng tại Việt Nam trong gần hai thiên niên kỷ qua. Mục đích của bài viết xuất phát từ quan niệm: khi nghiên cứu bất cứ một lĩnh vực nào thì người nghiên cứu nên tự đặt mình vào bối cảnh thời đại cũng như bối cảnh tri thức của thời đại đó, tộc người đó. Điều này sẽ giúp chúng ta có được cái nhìn từ bên trong, tránh đi lối nhìn đã “hiện đại hóa” của đời sau. Chính vì vậy, bài viết sẽ khảo về từ nguyên của “văn hiến” để ngõ hầu lý giải được phần nào nội hàm của khái niệm này trong quá khứ từ đó góp phần vào việc nghiên cứu văn hiến nói riêng và văn hóa truyền thống nói chung.

Bài viết tiến hành khảo cứu về khái niệm văn hiến theo chiều lịch đại. Phương pháp khảo cứu của chúng tôi gồm các bước sau. Bước thứ nhất, khảo về cách hiểu về văn hiến qua ghi nhận của các từ điển được biên soạn sau khi Nho học bị bãi bỏ. Bước thứ hai, khảo khái niệm văn hiến trong bối cảnh văn hóa và ngôn ngữ của tiếng Hán, từ đó nhằm phân biệt nội hàm của khái niệm này giữa tiếng Việt và tiếng Hán. Bước thứ ba, khảo về khái niệm này thông qua sự ghi nhận của hệ thống từ điển và văn liệu của tiếng Việt lịch sử. Bước thứ tư, khảo về các văn cảnh của Hán văn Việt Nam (qua các tư liệu sử ký, văn bia đề danh tiến sĩ, văn sách đình đối, và các văn bản nghệ thuật khác), để từ đó phân suất các trường nghĩa của khái niệm này từ bối cảnh tri thức Nho học.

1. Từ cách hiểu về “văn hiến” sau khi Nho học bị bãi bỏ

Văn hiến là từ vựng gốc Hán, được viết bằng tự dạng 文獻. Kể từ sau khi Nho học bị bãi bỏ ở Việt Nam năm 1919, và nhất là kể từ sau khi chữ Hán chữ Nôm bị thay thế hoàn toàn vào năm 1945, thì văn hiến cùng những từ gốc Hán khác đã chịu chung một số phận. Đó là sự cắt đoạn rời khỏi lịch sử vốn có của nó. Thêm nữa, việc cắt rời ấy đã khiến cho ngành từ nguyên học gặp rất nhiều khó khăn; ấy là chưa kể đến những thất thiệt khác cho sự đọc hiểu và nghiên cứu về tiếng Việt. Mục này, bài viết sẽ tiến hành khảo lại các định nghĩa của một số từ điển tiếng Việt được biên soạn trong thế kỷ XX, để hiểu thêm về lịch sử các cách định nghĩa cho khái niệm này.

Đại từ điển tiếng Việt (2008) kế thừa và bổ sung “văn hiến: dt. Truyền thống văn hóa lâu đời, có nhiều nhân tài.”[1] Từ điển từ Hán Việt (2007) của Lại Cao Nguyện và Phan Văn Các và Từ điển tiếng Việt (2007) của Trung tâm từ điển ghi: “văn hiến.t.d. truyền thống văn hóa lâu đời và tốt đẹp”[2]. Từ điển bách khoa Việt Nam (2003) ghi: “văn hiến. truyền thống văn hoá tốt đẹp và lâu đời. Chu Hy đời Tống chú thích một câu trong sách “Luận ngữ” như sau: “Văn là điển tịch; hiến là tốt đẹp, tài giỏi” (sic). Như vậy, “văn hiến” nguyên nghĩa là văn chương, sách vở hay, bảo tồn truyền thống văn hoá lâu đời.”[3] Từ điển tiếng Việt (2000) của Viện Ngôn ngữ học ghi: “văn hiến d.truyền thống văn hóa lâu đời và tốt đẹp.”[4] Từ điển tiếng Việt (tb lần 2, 1977) do Văn Tân và Nguyễn Văn Đạm chỉnh lý bổ sung ghi: “văn hiến.t. Cg. Văn vật. Yêu chuộng văn học, văn hóa: Việt Nam là nước văn hiến”[5] Từ điển Hán Việt từ nguyên (1999) của Bửu Kế ghi: “văn hiến. văn: sách sử. Hiến: kẻ hiền tài…Một nước có nhiều hiền tài có sử sách thì gọi là nước văn hiến”[6]. Tự điển Việt Nam của Ban Thu thư Khai trí (1971) ghi văn hiến cũng như văn minh.[7] Từ điển Việt Nam phổ thông (1951) của Đào Văn Tập, sau ghi giải thích đúng từ nguyên chữ văn hiến, lại phân suất nghĩa thành: “chỉ những cái hay trong một đời, đáng làm gương mẫu” [8]. Việt Nam tân từ điển (1951) của Thanh Nghị ghi: “văn hiến.d. sách vở hay và nhân vật tốt, nghĩa rộng như tiếng văn minh: nghìn năm văn hiến.”[9] Tự điển Việt- Hoa- Pháp (1937) của Gustave Hue ghi nhận văn hiến = văn minh[10]. Hán Việt từ điển giản yếu (1932) của Đào Duy Anh ghi: “văn hiến: sách vở và nhân vật tốt trong một đời.”[11] Việt Nam tự điển (1931) của Hội Khai trí Tiến đức ghi: “văn hiến文憲.học hành, hiền đức. Nơi văn hiến”[12]. Tuy nhiên, chữ Hán chế bản sai do đồng âm, 獻nhầm thành 憲. Đây là cuốn từ điển sớm nhất có mục từ này. Các từ điển của A.de Rhodes (1651) cho đến Huình Tịnh Của (1898) đều không thấy ghi nhận.

Có thể nói, các từ điển tiếng Việt hiện đại chỉ phân suất khái niệm này với một nét nghĩa chung chung mơ hồ. Đặc biệt là sự không phân biệt rạch ròi giữa khái niệm văn hóa và văn hiến, coi văn hiến là nền văn hóa tốt đẹp được kéo dài. Gần đây, để kỷ niệm đại lễ 1000 năm Thăng Long- Hà Nội, bộ sách “Tổng tập Nghìn năm văn hiến Thăng Long” đã được ấn bản với số lượng trang sách lên đến 8000 trang, trong đó tinh thần làm việc của các soạn giả đều bàng bạc một sự mơ hồ về khái niệm.

Có tác giả, mặc dù sau khi đã bàn qua về từ nguyên của khái niệm văn hiến vẫn sẵn sàng quy tất cả những lĩnh vực như toán học, kiến trúc, thương nghiệp, nghề truyền thống, thiết kế đô thị, và…tinh thần yêu nước vào nội hàm của văn hiến[13]. Hơn thế nữa, cách hiểu ôm đồm ấy còn dẫn đến việc tác giả dùng các khái niệm (văn hiến, văn minh, văn hóa, văn vật,…) một cách lẫn lộn theo cảm hứng và xúc cảm của người cầm bút.

Năm 1998, Đỗ Trọng Huề đã định nghĩa như sau: “Văn hiến là trình độ văn hóa của một dân tộc đã thoát khỏi bóng tối của thời tiền sử để bước vào ánh sáng của thời kỳ lịch sử”[14].

Đặc biệt, trước đó, văn hiến còn được triết gia Kim Định sáng tạo theo phong cách tư duy triết học của mình, bất kể sự thực lịch sử và những giới hạn cho phép của từ nguyên học cũng như văn hóa học và lịch sử tư tưởng. Ông viết: “Văn hiến là những người hy hiến thân tâm cho văn hóa và được người trong nước kính nể nghe theo. Đó là một loại tông đồ và có thể nói ở đây cũng tìm ra được nét đặc trưng của nền văn hóa Việt Nho. Bên Ấn Độ tuy cũng có văn hiến nhưng không vươn lên đến địa vị cao nhất trong xã hội vẫn dành cho tăng lữ Brahmana. Bên Âu Châu còn kém nữa đến độ không có văn hiến, chỉ mới có văn hào, văn sĩ.” [15] Cách định nghĩa của Kim Định xuất phát từ cách ông hiểu về nguyên tự của văn hiến. Ông hiểu văn là văn hóa (theo nghĩa rộng và khá hiện đại), và hiến là hy hiến (hy trong từ hy sinh, hiến với nghĩa cơ bản của nó trong tiếng Hán là dâng hiến). Ông coi văn hiến là một danh từ trỏ người (người hy hiến, như văn hào, văn sĩ), chứng tỏ ông cũng từng biết đến nét nghĩa nguyên gốc thứ hai mà cổ nhân hiểu (hiến còn trỏ hiền nhân). Nhưng tư duy tư biện của ông quá mạnh!

Có thể nói, văn hiến là một khái niệm đến nay khá mơ hồ đối với người hiện đại, nhất là khi nó được so sánh với một số khái niệm khác như văn hóa[16], văn minh[17], văn vật[18]. Thực tế, những thuật ngữ cơ bản trên của ngành văn hóa học đều xuất phát từ kinh điển Nho giáo. Nguyễn Vinh Phúc nói “Phương Tây không có khái niệm văn hiến. Chỉ ở Việt Nam, Trung Quốc và những nước chịu ảnh hưởng của Nho giáo mới có khái niệm này”[19] là hoàn toàn hữu lý.

Như trên đã bàn, văn hiến là một thuật ngữ của Nho gia, thuật ngữ này đã đi vào hệ thống từ vựng tiếng Việt khá sâu. Sâu đến mức nhiều người Việt (quãng gần 100 năm trở lại đây) dường như đã quên hẳn ý nghĩa từ nguyên của nó vốn được dùng trong quãng thời gian rất dài. Đây là một ví dụ cho thấy sự đứt gãy văn hóa do từ bỏ văn tự truyền thống (chữ Hán và chữ Nôm, và nhiều văn tự truyền thống khác).

Chúng tôi cho rằng từ văn hiến đã gia nhập vào Việt Nam từ trước đây khá lâu. Nếu theo lý thuyết, thì chữ này có thể được đưa vào nước ta cùng với kinh sách của Nho học cách nay 2000 năm, ít nhất từ thời Sĩ Nhiếp. Nhưng từ văn hiến thực sự là một yếu tố của tiếng Việt thì có lẽ chỉ trong khoảng 1200 năm trở lại đây[20]. Để xác định được thời điểm gia nhập của nó, chúng ta có thể tiến hành khảo cứu theo hai hướng. Hướng thứ nhất là tìm được ngữ liệu cụ thể của nó trong một văn bản tiếng Việt qua các văn bản Nôm. Hướng thứ hai là tìm được ngữ liệu cụ thể của nó trong văn bản Hán văn Việt Nam. Nhưng trước khi thực hiện những khảo cứu trên, bài viết sẽ tiến hành nghiên cứu về khái niệm này trong lịch sử tiếng Hán và văn hóa Hán.

2. Khái niệm văn hiến trong lịch sử tiếng Hán

2.1.Sách Luận ngữ thiên Bát dật có đoạn: Tử viết: Hạ lễ, ngô năng ngôn chi, Kỷ bất túc trưng dã; Ân lễ, ngô năng ngôn chi, Tống bất túc trưng dã; văn hiến bất túc cố dã” 子曰夏禮吾能言之杞不足徴也殷禮吾能言之宋不足徴也文獻不足故也 nghĩa là “Lễ nhà Hạ thì ta có thể bàn được, nhưng nước Kỷ (dòng dõi nhà Hạ) chẳng đủ để làm chứng; lễ của nhà Ân, thì ta cũng bàn được, nhưng nước Tống (dòng dõi nhà Ân) chẳng đủ để làm chứng. Ấy là vì văn hiến hai nước ấy không đủ”. Chu Hy chú: Văn, điển tịch dã; hiến, hiền dã 文典籍也獻賢也[21] nghĩa là: văn là điển tịch; hiến là người hiền vậy.

Đoạn này cho thấy ý rất quan trọng về văn hiến. Trong đó, ta nên chú ý đến mối quan hệ giữa văn hiến và lễ. Cộng với lời chú của Chu Hy thì ta có thể có tam đoạn luận sau:

Đoạn 1: Văn hiến = lễ

Đoạn 2: Văn = điển tịch ; Hiến = người hiền

à Đoạn 3 Văn hiến = điển tịch (ghi chép về lễ) + người hiền (người chế lễ, hành lễ)

Đây có thể coi là nghĩa nguyên bản nhất của từ văn hiến từ bối cảnh tri thức của Nho học Trung Quốc, và cũng có thể coi đây là khái niệm trùng khít giữa Nho học Tiên Tần và Tân Nho học.

2.2. Sách Vũ cống đồi chỉ 禹貢錐指(quyển 19) của Hồ Vịnh đời Thanh: “自兩漢以降嶺南之風氣漸移犀象毒冒珠璣銀銅果布之湊於是乎在魁奇忠信材徳之民於是乎生一以為脂膏之地一以為文獻之邦 nghĩa là “từ đời lưỡng Hán về sau, phong khí Lĩnh Nam[22] dần đổi; cho nên sừng tê, ngà voi, đồi mồi, ngọc bích, vàng, đồng, hoa trái tích tụ đã nhiều; mà những bậc khôi kỳ, trung tín, tài đức xuất hiện cũng lắm, có thể coi [Lĩnh Nam] vừa là đất màu mỡ, vừa là nước văn hiến.”[23]

Đoạn này nhấn mạnh đến nhân vật – yếu tố chủ thể làm nên văn hiến của một đất nước. Nhân vật đó phải là bậc khôi kỳ, có đức trung tín và tài năng theo quan niệm của Nho giáo.

2.3. Từ điển Từ nguyên – cuốn từ điển phổ dụng được soạn vào đầu thế kỷ XX, đã giải thích trên cơ sở định nghĩa của Chu Hy, nên đã viết: “văn trỏ những tư liệu văn tự liên quan đến điển chương chế độ, hiến trỏ những người nghe rộng biết nhiều” [tr.0737].

Cách định nghĩa trên đây của từ điển Từ nguyên là tiếp thu tinh thần của Chu Hy. Tuy nhiên, định nghĩa hiến (trỏ những người nghe rộng biết nhiều) lại mang nét nghĩa hơi hẹp hơn so với thực tế. Bậc hiền đương nhiên là “bác lãm quần thư”, tri thức hoàn bị; song tri thức chỉ là một yếu tố, ngoài ra người hiền còn phải đáp ứng nhiều tiêu chí khác như đức độ, khí tiết, phải có chính tích, có trứ thư lập ngôn.

2.4. Từ điển Từ hải sau khi giải thích về từ nguyên, đã ghi nhận nghĩa của chữ văn hiến trong tiếng Hoa hiện nay chỉ còn một nghĩa mở rộng là “những tư liệu văn vật có giá trị lịch sử như: lịch sử văn hiến, đồng thời cũng chỉ những tư liệu sách vở quan trọng liên quan đến một ngành khoa học cụ thể, ví dụ: y học văn hiến. Nay (văn hiến) còn là tên gọi chung cho bất cứ một dạng vật chất nào sử dụng văn tự, tranh ảnh, phù hiệu, để kí tải tri thức, thông tin như: ấn phẩm, băng từ, đĩa CD, băng hình, bản in ốp sét”[24].

Tóm lại, có thể nói rằng, từ văn hiến trong tiếng Hán đã thu hẹp nét nghĩa ban đầu của Nho học, mà trỏ chung cho các tư liệu lưu trữ thông tin. Còn từ văn hiến trong các từ điển tiếng Việt hiện đại được biên soạn trong suốt thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI thể hiện sự bất nhất và không tường minh về mặt khái niệm như đã nêu.

3. Từ văn hiến trong tiếng Việt lịch sử

Chúng tôi tìm được văn liệu có niên đại sớm nhất là vào thế kỷ XVII trong cuốn Thiên Nam ngữ lục khi viết về Sĩ Nhiếp/ Tiếp 士燮[25]. Tác phẩm này đã ca ngợi “Nam Giao học tổ” như sau:

Quan quân mà lại thầy ta,

Phủ quân tôn vị hiệu là Sĩ vương

Nước nên “văn hiến chi bang”

Đức giáo chẳng nhường Đậu thị Hà Tây (câu 1930-1933)

Ca ngợi Sĩ Nhiếp ở các mặt:

tuần này ắt chẳng lo chi

mối giềng đã tỏ, luật lề đã phân

Đồng niên quý thuế có ngần

Quan quân rõ phép, binh dân rõ đường

Điều hòa chế độ kỷ cương

Mở kho giáo hóa, rỡ ràng nhân luân” (c.1924-1928)

Đoạn thơ trên ca ngợi họ Sĩ là bậc vương, bởi ông đã có công giáo hóa biến Giao Chỉ trở thành “văn hiến chi bang”. Về hình thức, ông là “quan quân”, nhưng thực tế ông lại là bậc sư biểu (thầy ta). Bậc sư biểu ấy đã dùng đức giáo để cho dân ta hiểu rõ “mối giềng”, “luật lệ”. Chữ mối giềng dịch từ chữ cương thường. Như thế, văn hiến ở đây tạm có thể phân suất được những nét nghĩa sau: 1.Cương thường (nhân luân); 2. Luật lệ (cho binh và dân); 3. Giáo hóa. Trong đó, cương thường là những thiết chế về mặt huyết tộc và đạo đức xã hội. Luật lệ là những quy phạm mang tính pháp chế và quản lý hành chính nhà nước.

Sử cũ đều ca tụng Sĩ Nhiếp là vị quan tốt, rất có uy tín trong dân chúng. Ngô Sĩ Liên viết trong Đại Việt sử ký toàn thư: “Vương (Sĩ Nhiếp) độ lượng khoan hậu, khiêm tốn, kính trọng kẻ sĩ, người trong nước yêu mến, đều gọi là vương. Danh sĩ nhà Hán tránh nạn sang nương tựa có hàng trăm người”… Nước ta thông thi thư, học lễ nhạc, làm một nước văn hiến, là bắt đầu từ Sĩ Vương, công đức ấy không những chỉ ở đương thời mà còn truyền mãi đời sau, há chẳng lớn sao? Đoạn trên cho ta hai nét nghĩa nữa của khái niệm văn hiến: 1. thông thi thư (thông: hiểu nằm lòng; thi: Kinh thi; thư: Kinh thư); 2.học Lễ và Nhạc.

Ngữ cảnh tiếng Việt thứ hai mà chúng tôi biết được, xuất hiện trong lời giáng bút của thánh mẫu năm 1923, có đoạn mở đầu như sau:

Sông Nhị núi Nùng, nước bốn ngàn năm văn hiến

Con Hồng cháu Lạc, dân hai mươi triệu đồng bào[26]

Văn cảnh này không cung cấp thêm nét nghĩa nào cho khái niệm văn hiến. Tạm thời chúng tôi không bàn đến quãng thời gian đã được kéo dài bằng tâm lý dân tộc bản vị. Giá trị là ở chỗ, đây là văn cảnh tiếng Việt sớm nhất xuất hiện cụm từ“bốn ngàn năm văn hiến”.

[…..]

Nguồn: tunguyenhoc

Giáo dục Mỹ: Học để biết…tự học

HM Blog. Các nền giáo dục văn minh thường hướng theo cách dạy trong trường sao cho đứa trẻ học để ra đời biết cách tự học… Bài viết này đăng trên TVN đã lâu (8-2009), xin gửi lại bạn đọc vài lời tâm sự về giáo dục bên xứ người.

Chúc các bạn vui cuối tuần.

Chuyện học bên ta: Biết rồi…khổ lắm, nói mãi

Báo chí nói quá nhiều đến cải cách giáo dục, kêu gọi từ ý kiến của người dân đến trí thức. Nói chuyện với một số bạn trong ngành giáo dục sẽ thấy, viết về cải cách dễ, nói dễ, bàn tới bàn lui dễ, ra nghị quyết dễ, nhưng làm…khó. Người viết bài này từng làm “giáo sư” một thời gian ở Đại học Thăng Long nên cũng hiểu tại sao.

Đứng trước bảng đen, bụi phấn bay mù, học sinh ngủ gật gù, thầy nói khản cả giọng, trời nóng hầm hập, điện đóm phập phù thì chỉ muốn lật giáo án cho nhanh. Mỗi tiết 60 phút thì bớt đi 10 phút hay gộp hai tiết liền để còn chạy sô. Thầy trò nào chả mong trống trường.

Hỏi các em có muốn nghỉ sớm không, cả lớp giơ tay và hò reo, kể cả khi nghe thầy, cô ốm… Học sinh trốn học là vì đến trường chán quá, lại cái ông thầy, “lão” rồi mà chưa vợ, nên hâm hâm, toàn bắt chẹt học trò, ngồi khoanh tay để trên bàn hay cấm cãi.

Thầy “cáo cụ” ra bài tập và bắt các em lên bảng để câu giờ. Học trò cũng khôn chán, chúng cử một đứa giỏi làm vèo vài phút là xong. Thế là thầy chịu, đành nói tiếp để chúng còn…ngủ.

Tại sao thế? Vì cách dạy và học của chúng ta là thầy nói, thầy đọc, trò nghe, trò ghi, trò học thuộc lòng, trò thi lấy điểm và khi ra đời…trò quên. Chuyện này ai cũng biết rồi…khổ lắm, nói mãi. Năm này qua năm khác, người đòi cải cách cứ việc kêu gào, người đứng trên bục giảng và sỹ tử ngồi nghe vẫn như xưa.

Sự học bên Tây: Vui như tết

Tôi có anh bạn có con học ở Mỹ. Anh bạn email kể về “sự học”, mới nghe tôi thấy cũng chướng vì nghĩ anh ta khoe khoang dị hợm. Nhưng vài cái mail, tôi thấy hay hay nên chép lại cho độc giả tham khảo.

Cái trường con anh ta học ngay gần nhà, lại thuộc “xã” bên nên anh muốn cho “thằng cu” vào đó cho tiện. Lúc xin chuyển trường trái tuyến chỉ mong như ở Việt Nam, làm cái phong bì cho cô hiệu trưởng thế là xong.

Nhưng bên Mỹ thì trời ơi, bao nhiêu thủ tục giấy tờ, hối lộ thì đi tù. Trái tuyến xe bus không đón đưa mà mình lại không đút lót được tài xế. Những lúc ấy thấy cho trẻ đi học ở Việt Nam sướng thế (!)

Lúc con vào học rồi anh mới ngỡ ngàng, bên đây không có sách giáo khoa. Thầy cô “tự nghĩ” ra giáo án của mình. Mỗi hôm vài tờ photocopy trong cặp bọn trẻ. Làm toán thì như vẽ hươu vẽ vượn, trong khi môn vẽ thì tha hồ sáng tạo. Hai thằng con nhà anh chỉ biết đến siêu nhân, tầu thủy, máy bay nên vở chằng chịt toàn cảnh đánh nhau kiếm súng, máu đỏ tung tóe. Thế mà cô toàn cho điểm good (tốt).

Anh bạn tôi đau khổ nhất là mỗi tuần có một bài văn luận cho thằng cu lớp 2. Có bài ra như sau “Nếu em là hiệu trưởng thì em sẽ làm gì hôm thứ hai?” hay “Em thức dậy buổi sáng thấy mình bé như cái kẹo thì em sẽ thế nào?”. Thằng bé chịu, hỏi ông bố.

Bố nó đã làm hiệu trưởng bao giờ đâu nhưng cũng bịa, sáng thứ hai thì đến phải chào mọi người, xem công văn (Mỹ làm gi có công văn) và đi vòng quanh trường xem có trộm cắp gì không (trộm cắp Mỹ không tới trường học, ăn gì ở đó). Thằng con cứ thế chép vào vở theo kiểu câu cú nó nghĩ ra.

Bài “cái kẹo” thì ông bố hỏi vặn thằng con, bé như cái kẹo thì cái giầy của con như thế nào, ăn sáng mất nhiều không. Ông tướng con gật gù và thán phục lắm. Đoạn sau nó tự nghĩ ra và viết vào vở.

Không ngờ đến lớp cô giáo cho điểm cao nhất vì có trình độ…sáng tác. Chả hiểu ở lớp có nhiều học sinh được điểm cao như thế không. Có lẽ điểm này là chấm cho ông bố chứ không phải thằng con.

Bé tý mà học sinh, đứa nào cũng có một cuốn vở ghi những cuốn sách truyện đã đọc trong tuần. Mỗi tối phải đọc 15-20 phút truyện rồi mới lơ mơ, ngáp và “Good night, dady”.

Mãi sau bạn tôi đi họp phụ huynh, cô giáo mới bật mí là những bài kiểu đó cần có gia đình tham gia và cũng là cách kiểm tra xem ở nhà bố mẹ có quan tâm đến học hành của trẻ. Cô dạy ở lớp, bố mẹ cùng con học ở nhà và đó chính là gia đình và nhà trường cùng tham gia vào giáo dục, xây dựng nhân cách cho đứa trẻ, dạy chúng tự tư duy, tìm tòi và sáng tạo.

Thấy con mình chỉ một ít điểm khá, còn lại toàn trung bình nên anh lo lắm. Đến báo cô giáo là gia đình bắt các cháu học thêm ở nhà. Cô gạt đi, các cháu đã học từ 9 giờ sáng đến 3 giờ chiều, thế là đủ lắm với một đứa trẻ. Nếu có bài tập về nhà thì chỉ làm trong 15 phút. Đọc truyện thì thoải mái. Nhưng học thêm nhồi nhét thì nhà trường không khuyến khích, vì trẻ sẽ chơi vào lúc nào?

Đi học về anh bạn hỏi, ở lớp làm những gì, vở chép của con đâu? Thằng con trợn tròn mắt, chép cái gì hả bố, toàn là tick tick (đánh dấu đúng sai) vào bài tập (trắc nghiệm). Thỉnh thoảng phải tóm tắt câu chuyện đọc trên lớp qua những câu hỏi và trả lời trên một trang giấy không dòng kẻ, chữ như gà bới. Thích viết tay trái, tay phải tùy. “Vẽ” chữ xuôi ngược cũng được.

Bọn trẻ nhà ấy từ bé đi học mẫu giáo đến nay là lớp 3 rồi, ngày nào phải nghỉ học là chúng tiếc lắm. Chúng bảo, ở lớp được “tranh luận” bố ạ. Câu chuyện đọc lên, các câu hỏi được đặt ra. Cô giáo chả phải nói mấy, toàn bọn con tự học, tự tranh cãi và tự cho điểm, vui như tết. Cả lớp quanh vài cái bàn tròn, tha hồ “đấu khẩu”…

Có lẽ bọn trẻ được tham gia vào “giảng dạy” nên thời gian mới qua nhanh thế. Là người trong cuộc nên chúng cảm thấy thú vị. Học mà chơi và chơi mà học có thể là thế chăng?

Thay đổi tận gốc hay hãy thay trên ngọn một tý?

Học như dân ta thì thi Olympic dễ được giải cao, thi vào các trường đại học dễ đỗ và ra đời có bằng cấp. Nhưng bằng cấp cao mà mặt bằng xã hội không cao. Có phải ai cũng đi đại học đâu, chả lẽ 85 triệu dân toàn là giáo sư, lấy ai quét rác, đào cống, xây cầu.

Có lẽ vì thế các nền giáo dục văn minh thường hướng theo cách dạy trong trường sao cho đứa trẻ học để ra đời biết cách tự học tiếp. Có thể không có bằng cấp gì nhưng vì biết tự học, tự tìm hiểu thì gặp chuyện gì khó khăn con người ta sẽ biết tìm lối thoát. Ở ta, gọi là “giải quyết những vấn đề từ thực tiễn”…

Nước Nhật sau 30 năm chiến tranh đã trở thành cường quốc kinh tế vì đơn giản họ rất coi trọng giáo dục, phát triển nguồn nhân lực, hướng tới dạy con người cách suy nghĩ, sáng tạo và tự học trong suốt quãng đời còn lại sau khi ra trường.

Có 20.000 tiến sỹ, gấp đôi hay gấp ba thế nữa, nhưng cả dân tộc 85 triệu người không biết cách tự học sau khi ra trường thì coi như chiến lược giáo dục đã thất bại.

Có lẽ cách giáo dục trên của Mỹ nhằm tạo ra đứa trẻ có trí thông minh, biết xử lý tình huống hợp lý hơn là một cậu học sinh, tinh thông kim cổ, nhưng lóng ngóng không biết luộc quả trứng lòng đào hay rửa cái bát cho sạch.

Kêu gọi thay đổi giáo dục tận gốc thì cao siêu quá. Thay gốc thì ai sẽ làm cái gốc tiếp theo đây. Để rồi khi vào ngồi vào ghế của Bộ trưởng Bộ GD hay đứng trước giảng đường mới thấy cái gốc mới ấy cũng khó nhằn.

Tuy vậy, thay đi chút trên ngọn, giáo dục không hướng tới bằng cấp mà dậy cho thế hệ trẻ biết cách tự học. Biết đâu mình lại vượt Mỹ cũng nên vì dân ta vốn thông minh và nhanh nhẹn hơn người.

Nguồn: Blog Hiệu Minh

VỀ MỐI QUAN HỆ NGA – TRUNG

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ năm, ngày 7/6/2012

TTXVN (Angiê 5/6)

Lo ngại xung quanh hợp tác chiến lược chân chính.

Từ 23 đến 25/1 tại Matxcơva diễn ra Hội nghị song phương hàng năm về các vấn đề chiến lược và an ninh giữa Trung Quốc và Nga. Đây là phiên họp lần thứ năm kể từ năm 2005 đến nay. Theo đánh giá của chuyên gia Jean-Paul Yacine của tạp chí “Tin Trung Hoa”, triển vọng tình hình từ cuối những năm 1980 cho thấy mối quan hệ song phương không ngừng được cải thiện.

Việc xích lại gần nhau giữa Nga và Trung Quốc tiếp tục diễn ra vào năm 2001 với việc ký Hiệp ước hữu nghị và hợp tác được tuyên truyền rầm rộ rồi vào năm 2005 với việc thiết lập hợp tác chiến lược. Trong một số mối quan hệ quốc tế, thuật ngữ “chiến lược” đôi khi được sử dụng không đúng chỗ, nhưng đối với mối quan hệ Nga-Trung, thuật ngữ đó hoàn toàn thích hợp.

Hiệp ước năm 2001 bao gồm nhiều vấn đề có tầm quan trọng cốt tử, từ cung ứng khí đốt và dầu mỏ cho Trung Quốc đến hợp tác giữa hai nước chống mối đe dọa khủng bố ở Trung Á hay bán vũ khí và chuyển giao công nghệ cho Quân giải phóng nhân dân Trung Hoa. Trong các lĩnh vực này, hoạt động phối hợp chống chính sách sức mạnh và bá quyền của Mỹ chiếm một vị trí quan trọng.

Khía cạnh “chống Mỹ” trong việc xích lại gần nhau giữa Nga và Trung Quốc trước đây được mở rộng rất nhiều dưới thời Giang Trạch Dân trong suốt nhiệm kỳ của ông. Bắt đầu từ năm 1992, Trung Quốc cùng Nga tố cáo hành động của NATO – và các chiến dịch đặc biệt của tổ chức quân sự này – ở vùng Bancăng và Đông Âu trước đây (căn cứ quân sự của Mỹ ở Rumani và Bungari), tại Ucraina, Grudia và ở những vùng cận kề phương Tây thuộc Liên Xô, rồi ở Trung Á. Rõ ràng, Nga và Trung Quốc không phải không có lý khi cùng cho rằng chiến lược của Mỹ là “loại bỏ ảnh hướng của Nga khỏi đường biên giới lịch sử của nước này và kiềm chế Trung Quốc”.

Ngoài những lý do đồng thuận chiến lược giữa Nga và Trung Quốc nói trên, còn có thêm việc hai nước thường xuyên dè chừng với lập trường của các nước phương Tây về vấn đề hạt nhân Iran và nghi ngờ các kế hoạch liên quan đến lá chắn tên lửa của Mỹ ở châu Á và châu Âu.

Đó là bối cảnh dẫn đến các cuộc tập trận chung Nga-Trung, bắt đầu từ năm 1999 (với một số thành phần thuộc Hạm đội Thái Bình Dương của Nga và Hạm đội Đông Hải của Trung Quốc) và lên tới đỉnh cao từ năm 2005 với cuộc tập trận hỗn hợp quốc tế trên không và trên bộ đầu tiên với quy mô lớn chưa từng thấy diễn ra trên lãnh thổ Trung Quốc.

Với nhiều cái cớ khác nhau và các tên gọi mập mờ, tất cả các cuộc tập trận tiếp theo đều nhằm mục đích cân bằng hoạt động quân sự của Mỹ ở Đông Á, tại các vùng ngoại biên thuộc Liên Xô và ở Trung Á. Một số cuộc tập trận khác cũng diễn ra hàng năm sau đó, ở biển Nhật Bản, vùng Xibêri, Mãn Châu hay Trung Á. Đồng thời, Nga bán vũ khí cho Trung Quốc, bắt đầu từ năm 1989 và thúc đẩy mạnh hơn khi Trung Quốc bị phương Tây cấm vận, cung cấp cho quân đội nước này các trang thiết bị chính đế nhanh chóng hiện đại hóa (550-600 máy bay chiến đấu hiện đại SU-27 và SU- 30MKK, trực thăng chống ngầm Kamov, tên lửa phòng không S-300, tàu ngầm lớp Kilo, hai tàu khu trục Sovremenny trang bị tên lửa chống tàu…).

Vấn đề là mối quan hệ Nga-Trung không còn cố hữu hay xơ cứng vì lý do tư tưởng như trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh. Tuy không tin tưởng lẫn nhau như nói ở trên, song Nga nhận thấy sức nặng ngày càng tăng của Trung Quốc trong các vấn đề của mình nên vẫn giữ mối quan hệ với phương Tây và Liên minh châu Âu. Chẳng hạn, Nga bán 67% tổng lượng khí đốt xuất khẩu của mình cho Liên minh châu Âu. Song song với cuộc đối thoại chiến lược với Trung Quốc, Nga tiến hành các cuộc đối thoại chiến lược khác với NATO và Mỹ, về an ninh châu Âu và phòng thủ tên lửa. Cho dù gặp khó khăn, song các cuộc đối thoại này không phải vì thế mà không trở thành đối trọng với việc xích lại gần Trung Quốc và, ít nhất, cũng tạo cho Nga có thêm khả năng xoay xở.

Nếu như Nga và Trung Quốc có nhiều điểm đồng về chính trị, chuyên gia các vấn đề quốc tế Jean-Paul Yacine nhận xét hai nước lại khá cách xa nhau về kinh tế do lợi ích không đồng nhất. Khi các nhà lãnh đạo Nga và Trung Quốc gặp nhau, mọi thứ dường như đều trôi chảy: hợp tác được cho là đang phát triển sâu rộng, hai bên thống nhất về các vấn đề quốc tế lớn (Libi, Xyri) và vấn đề nhân quyền không ảnh hưởng tới trao đổi thương mại… Trung Quốc và Nga ký nhiều hợp đồng kinh tế trị giá 7 tỷ USD, song vẫn không có tiến triển đáng kể nào trong việc Nga bán khí đốt từ Xibêri với khối lượng lớn cho Trung Quốc.

Trao đổi thương mại hai chiều, cho dù tăng gấp 10 lần từ năm 2001 đến nay, song vẫn chỉ ở mức khiêm tốn (từ 60 đến 70 tỷ USD). Hai nước muốn nói gì thì nói trong thông cáo chính thức, song trao đổi chỉ diễn ra một chiều với cung ứng khí đốt, dầu mỏ và trang thiết bị quân sự là chủ yếu, trong khi Nga rất dè chừng về trang thiết bị quân sự vì không tin Trung Quốc. Kể cả khi được đa dạng hóa, trao đổi vẫn chỉ xoay quanh lĩnh vực năng lượng. Tháng 9/2010, Trung Quốc cho Nga vay 6 tỷ USD để đổi lấy việc nước này bán than cho mình trong 25 năm. Trong chuyến thăm Trung Quốc cuối tháng 9/2010, Tổng thống Dmitry Medvedev hứa sẽ xây hai nhà máy điện hạt nhân ở vùng Thượng Hải, còn Trung Quốc sẽ xây một nhà máy điện ở vùng Yoroslavl.

Nhưng cốt lõi trong quan hệ song phương vẫn là việc ngày 2/1, đưa vào sử dụng đường ống dẫn dầu đầu tiên nối Đông Xibêri với vùng Đông Bắc Trung Quốc, có khả năng vận chuyển 15.000 tấn/năm. Chi phí cho dự án này lên tới 25 tỷ USD và được tài trợ một phần bằng vốn vay của Trung Quốc. Trái lại, hai nước không nhất trí về giá khí đốt được vận chuyển bằng một đường ống đang được xây dựng dự kiến chạy từ Tây Xibêri qua dãy Altai tới vùng Tân Cương, trị giá 16 tỷ USD và có thể vận chuyển 30 tỷ mét khối/năm.

Triển vọng xuất khẩu hàng công nghiệp Nga sang Trung Quốc vấp phải trở ngại do bộ máy công nghiệp quá cổ lỗ và sự cạnh tranh của Trung Quốc, trong khi món nợ của các tổ hợp Nhà nước lớn, hậu quả của các chiến dịch quốc hữu hóa từ thời Putin, là một điểm yếu trước sức mạnh tài chính của Trung Quốc. Quỹ Nhà nước Trung Quốc đã tỏ ý muốn mua lại toàn bộ hay một phần trong số 10 tỷ USD cổ phiếu được bán ra trong khuôn khổ chương trình tư nhân hóa được Bộ trưởng Tài chính Alexei Kudrin quyết định vào năm 2011.

Tại Nga, từ lâu nhiều chuyên gia cảnh báo tình trạng mất cân đối dân số giữa vùng Xibêri và vùng Mãn Châu ngay bên cạnh (chỉ có 8 triệu người Nga sống ở vùng giữa hồ Baikal và Thái Bình Dương, so với 200 triệu người Trung Quốc ở vùng Đông Bắc), trong khi sự đồng thuận giữa Nga và Trung Quốc ở vùng Trung Á bị đe dọa bởi các cuộc chiến tranh giành ảnh hưởng và cạnh tranh trong khai thác nguồn năng lượng. Trung Quốc muốn đa dạng hóa nguồn cung ứng năng lượng nên phát triển ở đây một mạng lưới đường sắt và đường ống dẫn khí đốt ngày càng dày đặc.

Đúng là hai nước cùng có tâm lý nghi ngại đối với Mỹ, song phải thấy rằng đối với Nga cũng như Trung Quốc, Mỹ vẫn là tiêu điểm trong mối quan hệ chiến lược của họ. Một phần ba các câu trả lời của Đới Bỉnh Quốc cho các nhà báo Trung Quốc và Nga hỏi về nội dung cuộc đối thoại chiến lược Nga-Trung, nói đến mối quan hệ giữa một bên là Nga và Trung Quốc với bên kia là Mỹ.

Có xích lại gần nhau không?

Vladimir Putin đã trở lại với ngôi vị số một ở Nga. Tác động địa chính trị của việc này đối với Bắc Kinh là như thế nào? Theo ông Emmanuel Lincot, Giám đốc Bộ phận nghiên cứu Trung Quốc đương đại thuộc Viện Thiên chúa giáo Paris (Pháp), Vladimir Putin trở lại là một tin tốt lành đối với Trung Quốc. Theo quan điểm của Bắc Kinh, điều này sẽ giúp mối quan hệ song phương trường tồn và phối hợp hành động giữa hai cường quốc sẽ tiếp tục ổn định.

Phân tích trên tạp chí “Phát thanh”, ông Emmanuel Lincot lưu ý lập trường của Nga và Trung Quốc không phải lúc nào cũng thống nhất. Năm 1960, với Liên bang Xôviết, người ta đã thấy xảy ra ly khai, rồi căng thẳng ở biên giới dưới thời các Tổng thống Gorbachev và Yeltsin. Sau khi Nga công nhận Ápkhadia sau cuộc khủng hoảng Grudia, Bắc Kinh hoàn toàn không bày tỏ lập trường về vấn đề này.

Trước khi trở thành đối tác chiến lược, Nga và Trung Quốc trải qua một thời kỳ căng thẳng trong nửa sau thời kỳ Chiến tranh Lạnh. Các cuộc cãi vã giữa hai nước chủ yếu liên quan đến xung đột lãnh thổ, thực sự chấm dứt trước khi Liên Xô tan vỡ, khi hai nước ký Hiệp ước hữu nghị và hợp tác vào năm 1990. Từ đó trở đi, Trung Quốc và Nga duy trì mối quan hệ vừa vụ lợi vừa thực dụng về phương diện chiến lược, cần nói rằng hai thực thể đó có một số điểm chung vì vấn đề người Duy Ngô Nhĩ cũng có thể so sánh được với vấn đề Chesnia. Nga cũng như Trung Quốc muốn giải quyết vấn đề của mình trong nội bộ mà các cường quốc bên ngoài không được can thiệp vào.

Đặc biệt, những năm gần đây được đánh dấu bằng việc cải thiện có tính chất Lịch sử mối quan hệ Nga-Trung vào năm 1989, tiếp đó là việc thành lập vào năm 1996 Nhóm Thượng Hải (đến năm 2001 trở thành Tổ chức hợp tác Thượng Hải – SCO) bao trùm không gian giầu dầu mỏ ở Trung Á và cũng là nơi nổ ra căng thẳng chính trị triền miên, với hoạt động của các trào lưu Hồi giáo cực đoan và các mạng lưới buôn bán ma túy.

Mối quan hệ giữa hai nước phụ thuộc vào lợi ích của mình cũng như vào những lần xích lại gần nhau theo tình thế. Tướng de Gaulle có nói: “Một Nhà nước không có bạn mà chỉ có lợi ích.” Vậy hai nước có lợi ích chung gì?

Theo chuyên gia Emmanuel Lincot, cả Trung Quốc và Nga đều chống lại sự bá quyền của Mỹ và có cùng đường lối chống chính sách can thiệp của phương Tây. Bằng chứng là lập trường giống nhau của Nga và Trung Quốc trong các vấn đề như Trung Á hay Ápganixtan và hai nước này ủng hộ nhau về các vấn đề này. Hai cường quốc này muốn phòng ngừa mọi hình thức can thiệp của các cường quốc phương Tây khác vào không gian của mình, như đã từng xảy ra trong các cuộc khủng hoảng Libi và Xyri. Sau khi Nga và Trung Quốc cùng phủ quyết nghị quyết của Liên hợp quốc về Xyri, cộng đồng quốc tế đặt câu hỏi liệu bước đi trái chiều này có phải là do lợi ích chiến lược chung giữa hai nước không? Theo cách nhìn của phương Tây, lập trường đó hoàn toàn lôgích dưới ánh sáng của lợi ích chiến lược chung giữa Nga và Trung Quốc.

Các cuộc tập trận chung được tổ chức thường kỳ giữa hai nước liệu có phải là câu trả lời trực tiếp và thẳng thừng đối với các cuộc tập trận chung giữa Mỹ và nhiều nước khác láng giềng của Trung Quốc, như Hàn Quốc và Việt Nam, không? Chuyên gia Emmanuel Lincot, đồng thời là Tổng biên tập tạp chí “Thế giới Trung Hoa”, cho rằng không phải như vậy, Các cuộc tập trận này được hoạch định từ trước. Chắc chắn là trước chính sách của Mỹ ở châu Á, người ta có thể nói đến một hình thức giáng trả, nhưng ông nghĩ rằng đó là hành động ngoại giao đúng hơn là một mối đe dọa thực sự. Đó cũng là cách để nhắc lại rằng Trung Quốc muốn xác lập không gian ngoại vi của mình, đặc biệt là ở Đông Bắc Á, xung quanh bán đảo Triều Tiên. Cũng có thể coi những sự kiện đang làm. rung chuyển thế giới là dư âm cuối cùng của Chiến tranh Lạnh.

Trong phần lớn các vấn đề quốc tế, Nga và Trung Quốc từ nhiều năm nay thống nhất với nhau để bảo vệ khái niệm không can thiệp vào công việc nội bộ của một nước khác. Tình hình đó là do bản chất chủ quyền của hai nước và lịch sử gần đây của hai nước.

Trong khi Nga chịu ảnh hưởng của việc Liên bang Xôviết tan vỡ năm 1991, Trung Quốc năm 1999 phải chịu cảnh Đại sứ quán của mình tại Bêôgrát (Nam Tư cũ) bị lực lượng NATO không kích. Cuộc xâm lược Irắc năm 2003 của Mỹ rốt cuộc thuyết phục giới lãnh đạo hai nước về sự cần thiết phải tạo thành một khối để chống lại tất cả những gì có thể được xem là mưu đồ can thiệp của phương Tây vào một nước thứ ba, nhằm ngăn ngừa kiểu can thiệp đó chống lại lợi ích của chính hai nước. Lá phiếu phủ quyết đối với vấn đề Xyri là do Trung Quốc và Nga cần phải phủ nhận chính sách can thiệp của NATO, đồng thời cũng do tốc độ cuộc can thiệp quân sự vào Libi khiến Nga và Trung Quốc trở tay không kịp.

Nhưng chuyên gia Nikolas Jucha khẳng định mối quan hệ giữa hai nước không phải lúc nào cũng nồng ấm. Có nên tin cặp Nga-Trung đang tạo ra một liên minh có khả năng đối trọng với ảnh hưởng của các nước phương Tây không? Theo nhà Trung Quốc học Jean-Luc Domenach thuộc CERI-Sciences Po (Pháp), có thể là không, như việc Nga bán 68 tỷ mét khối khí đốt trong 30 năm cho Trung Quốc, được ký trong chuyến thăm cuối năm 2011 của Putin, đã cho thấy. Được lên kế hoạch vào năm 2009 hợp đồng khổng lồ này vẫn chưa đi đến kết quả nào do thiếu sự tin tưởng lẫn nhau giữa hai nước.

Nga nhìn nhận những sự việc làm rung chuyển Trung Quốc trong thời gian gần đây như thế nào? Vụ luật sư mù Trần Quang Thành dĩ nhiên không có lợi cho ngành ngoại giao của cả Mỹ lẫn Trung Quốc, nhưng không gây hậu quả nào đối với mối quan hệ Nga-Trung, về vụ Bạc Hy Lai hãy còn quá sớm để nói như vậy.

Hơn nữa, việc Nga mới đây bắt được một gián điệp Trung Quốc chỉ vài ngày trước khi Putin đến thăm Trung Quốc cho thấy vẫn còn tình trạng nghi ngại lẫn nhau mặc dù mối quan hệ song phương bề ngoài có vẻ tuyệt vời. Đối với chuyên gia Jean-Luc Domenach, điều rất rõ ràng là hai nước từ lâu vẫn dò xét lẫn nhau.

Tình trạng thiếu tin tưởng đó là hạn chế của mối quan hệ giữa Nga và Trung Quốc. Trong cuộc thương lượng tại Liên hợp quốc về vấn đề Libi rồi Xyri; nhiều nhà quan sát nghĩ Trung Quốc và Nga hợp sức với nhau để chống lại các nước khác. Cả hai nước đều khai thác nhau nhằm tăng cường tác động trước các đối tác khác quan trọng hơn, chẳng hạn như Mỹ.

Cho dù không bắt buộc phải là những người bạn tốt nhất trên đời, song Nga và Trung Quốc có nhiều điểm chung: một lịch sử cộng sản trong thời gian gần đây, không chấp nhận can thiệp và quyết tâm hạn chế những “nguyên tắc lớn” về phương diện quốc tế mà các nước phương Tây đưa ra. Như vậy hai nước có cái để thống nhất về nhiều vấn đề địa chiến lược, nhưng lại không có thứ để bảo đảm có được tình đoàn kết vững bền./.

Nguồn: Basam